Dân khí ươn hèn

Học giả Vũ Thế Khôi tổng kết 5 đặc điểm khác biệt giữa ta (người Việt) và người (Âu) trong Văn minh tân học sách – “tài liệu được coi là “cương lĩnh” của phong trào Duy tân – Nghĩa thục 1903 – 1908”, như sau:

a. Giới tư tưởng: “người” thì tự do sáng tạo, cạnh tranh; “ta” – bị cấm nghĩ, cấm bàn;

b. Giới giáo dục: “người” – giáo dục cơ bản chung (tức kiến thức phổ thông), tiếp đó mới đào tạo thực nghiệp, mỗi người được lựa chọn theo năng lực cá nhân; “ta” – một đường mòn luyện tập từ chương kinh viện cho tất cả;

c. Giới chính trị (tác giả dùng từ “kinh tế”, theo nghĩa kinh bang tế thế): “người” – dân chủ cộng hoà, bầu cử, nghị luận; “ta” – “hành chính cấm thay đổi”, “dùng người thì quý im lìm lặng lẽ”, “luật có ban bố đấy nhưng dân gian không được đọc”;

d. Giới “tính tình” (ở đây là nói về bản chất của hai loại người dân): “người” – là công dân, thống nhất với nước về lợi và quyền qua các thể chế nhà nước và dân sự; “ta” – là thần dân bị cai trị, áp chế, không được biết đến luật, chỉ được phục tùng;

e. Giới “phong tục” (ý nói về bản tính con người do hai thể chế trái ngược): “người” – cởi mở, giao lưu; “ta” – khép kín, trì trệ.

Hoạ sĩ/nhà phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng nhận xét về tính cách của người Việt là “thích ngả ngốn”, “nhẫn nhục, phục tùng”, “nịnh hót”, “ưa nịnh nọt, thích quà biếu, thích khen thưởng, thích tâng bốc cũng đồng thời thích được nghe nói dối và o bế những kẻ tâng bốc mình và không bao giờ chấp nhận phê bình.”

Nguồn: talawas Blog

Đăng trong: on Tháng Mười Một 4, 2009 at 8:05 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

Giải mã cử chỉ thông thường của người Việt

Lỗ Tấn từng viết về những người nhà quê của A.Q thái hành dài bằng đốt ngón tay, trong văn chương Tự lực văn đoàn cũng có những cảnh hài hước khi muốn chế giễu những người được cho là quê mùa nào đó, ví dụ cho một anh nông dân nhảy đầm.

Từ hoang dã đến con người hiện đại là quãng thời gian hàng vạn năm, rất nhiều hành vi đã ngưng đọng lại không bao giờ thay đổi nữa. Đó chính là cử chỉ thông thường của một dân tộc, không bao giờ đánh giá theo thang giá trị đẹp hay xấu.

f

Cũng giống như tất cả người Việt khác, tôi ít khi để ý đến hành vi thường ngày của mình, nhưng dần dà cũng có những phân biệt nhất định, nhất là khi đi sơ tán, tôi thấy người sống ở nông thôn có những cách hành xử khác với người ở thành thị. Tiếp xúc với những người thuộc các sắc tộc khác nhau, lại thấy những hành xử khác nữa, rồi gặp người nước ngoài lại là một cách sống khác. Cái gì tạo nên những phong cách sống, như một số người có đầu óc kỳ thị thường phân biệt giữa người nhà quê và người thành phố, giữa người da trắng và người da màu, mà về bản chất nó không phản ánh sự tốt xấu, sang hèn chỉ là hệ quả của cả hành trình dân tộc.

Bà tôi và những cụ già khác thường nhai trầu bỏm bẻm, khi răng yếu các cụ có chiếc cối nghiền trầu nho nhỏ và ngoáy vào đó suốt ngày. Tôi thấy một cụ già nhờ nhà sư chùa làng nhai trầu hộ, rồi bà ăn sau, một hôm nhà sư bận nên nói bà nhờ cô gái này này.

Bà cụ bảo: Cô này miệng hôi tôi không ăn được. Nhà sư: Miệng tôi mới hôi, còn miệng các cô ấy thơm lắm. Bà cụ nói: Các thầy là người tu hành nên khí chất thơm tho, còn các cô ấy có tu gì đâu mà thơm hay hôi. Như vậy cách quan niệm của các cụ già xưa thật khác thường, đạo đức quyết định tất cả những phẩm chất còn lại, mà thực tế thì không hẳn như vậy.

Dưới cái mũi của con người động vật nói chung rất hôi hám, nhưng chúng không liên quan gì đến giá trị thiện ác cả, và nếu có thì động vật rất thiện so với con người. Lỗ Tấn cũng viết một cách hài hước rằng có lẽ mồ hôi của cô tiểu thư thành thị thì thơm hơn mồ hôi của anh công nhân chăng? (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười 23, 2009 at 3:15 Chiều  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

Đau lòng và phẫn nộ giới trẻ Hà Thành viết bậy lên tháp cổ

Chỉ còn một năm nữa đại lễ mừng một nghìn năm Thăng Long – Hà Nội sẽ được tổ chức. Cả Hà Nội đang gấp rút chuẩn bị những công việc cuối cùng trước thềm đại lễ “ngàn năm tuổi”. Thế nhưng trên hai ngôi tháp cổ giữa lòng thủ đô lại tồn tại những “dấu ấn” đáng xấu hổ của các teen nhà mình.
Có lẽ, các bạn teen Hà thành đều đã ít nhất một lần đến thăm Hồ Hoàn Kiếm, thăm Đền Ngọc Sơn và chắc hẳn các bạn đều biết đến hai ngôi tháp cổ nằm trong quần thể di tích Hồ Gươm là Tháp Hòa Phong và Tháp Bút. Tháp Hòa Phong được xây bằng gạch mộc nằm trên vỉa hè bờ đông Hồ Gươm. Đây là phần di tích duy nhất còn lại của ngôi chùa Báo Ân nổi tiếng, còn gọi là chùa Quan Thượng dựng đời Minh Mệnh (1842) trên nền cũ của Lầu Ngũ Long trong phủ Chúa Trịnh.

Tầng một có 4 mặt trổ 4 cửa vòm, trên mỗi ngạch cửa ghi: Báo Ân Môn – Báo Nghĩa Môn – Báo Đức Môn – Báo Phúc Môn; Tầng hai, 4 góc xây trụ vuông đặt tượng 4 con nghê, nối liền nhau bằng đường viền hồi văn giao hóa; Tầng ba ghi “Hòa Phong Tháp”, trên đỉnh nhô cao trang trí bầu hồ lô. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười 21, 2009 at 11:14 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: ,

Người Việt, sáng mở mắt thấy điều bực mình!

Minh Tuấn

Có người nói, người Việt ta sáng ngủ dậy, mở mắt ra là thấy điều bực dọc, nên mới sinh ra cái tính cách cáu kỉnh, hay gây gổ.

Này nhé, mình cả đời chẳng hề gọi  điện đi nước ngoài bao giờ. Thế mà cuối tháng, tự nhiên cái hóa đơn tính tiền điện thoại lại có vài cuộc gọi đi nước ngoài, tốn cả vài triệu tiền cước. Thế là bực dọc, đi cãi nhau với ông bưu điện. Ra ngoài đường, đi đứng đúng luật hẳn hoi, mà vẫn bị phạt vi phạm…

Người Việt hay tức giận, gây gổ. Ảnh Internet
Người Việt hay tức giận, gây gổ. Ảnh Internet

Lại có chuyện bực mình. Đi vào cửa hàng mua cái gì đó, gửi xe, bị chém tiền gửi xe đắt. Lại bực mình. Dựng cái xe ở vỉa hè nửa phút, đã bị bẻ mất cái gương. Thế là nhìn xung quanh thấy ai cũng có vẻ như là thằng ăn cắp gương của mình. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười 14, 2009 at 7:48 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: ,

Thói nịnh bợ trong thơ Tố Hữu

“Lâu nay, người ta hay dẫn mấy câu thơ của Tố Hữu viết nhân ngày Stalin chết để chế diễu cái họ gọi là thói nịnh bợ của người được gọi là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng tại Việt Nam:

Stalin!Stalin

Bữa trước mẹ cho con xem ảnh
Ông Stalin bên cạnh nhi đồng
Áo ông trắng giữa mây hồng
Mắt ông hiền hậu, miệng ông mỉm cười
Trên đồng xanh mênh mông
Ông đứng với em nhỏ
Cổ em quàng khăn đỏ
Hướng tương lai
Hai ông cháu cùng nhìn
Sta-lin! Sta-lin!
Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin!
Mồm con thơm sữa xinh xinh
Như con chim của hoà bình trăng trong
Hôm qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao
Làng trên xóm dưới xôn xao
Làm sao, ông đã làm sao, mất rồi!
Ông Sta-lin ơi! Ông Sta-lin ơi!
Hỡi ôi Ông mất! Đất trời có không?
Thương cha thương mẹ thương chồng
Thương mình thương một thương Ông thương mười
Yêu con yêu nước yêu nòi
Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu
Ngày xưa khô héo quạnh hiu
Có người mới có ít nhiều vui tươi
Ngày xưa đói rách tơi bời
Có người mới có được nồi cơm no
Ngày xưa cùm kẹp dày vò
Có Người mới có tự do tháng ngày
Ngày mai dân có ruộng cày
Ngày mai độc lập ơn này nhớ ai
Ơn này nhớ để hai vai
Một vai ơn Bác một vai ơn Người
Con còn bé dại con ơi
Mai sau con nhé trọn đời nhớ Ông
Thương Ông mẹ nguyện trong lòng
Yêu làng yêu nước yêu chồng yêu con
Ông dù đã khuất không còn
Chân Ông còn mãi dấu son trên đường
Trên đường quê sáng tinh sương
Hôm nay nghi ngút khói hương xóm làng
Ngàn tay trắng những băng tang
Nối liền khúc ruột nhớ thương đời đời.

(Tố Hữu 1953) (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười 9, 2009 at 1:08 Chiều  Để lại phản hồi  
Tags: ,

Bốn thói xấu của người Việt

Thăng Sc

Nói “ca rt nhiu người Vit ” là để dễ lọt tai, thật sự cầu thị thì phải nói là Mt s thói xu ca người Vit thi naybởi vì những thói xấu này đang rất thịnh hành và phổ biến. Nói “người Vit hin nay là để giới hạn thời gian trong một số những thập kỷ gần đây, có thể người Việt xa xưa và người Việt trong tương lai không mắc những thói xấu này.

Thói gian ln

Từ điển Tiếng Việt 1994 định nghĩa gian lận là “có hành vi di tr, mánh khóe, la lc. Dẫn từ điển cho chắc ăn thôi chứ nhắm mắt vào cũng thấy rõ người ta gian lận, dối trá thế nào, có khi còn thấy rõ hơn.

Trong buôn bán, từ nửa lạng cà chua, dăm ba quả táo đến hàng tấn cá ba sa, hàng tấn xi măng sắt thép đều có thể bị cân điêu, chỉ cần gian lận lấy nửa lạng là người ta đem nhét thật nhiều bánh đúc vào cái diều con gà, nếu gian lận được nửa yến thì sẵn sàng bơm thuốc phọt cho gà lợn rau quả mau tăng trọng, bất chấp những tai hại khôn lường, đồ xấu đánh tráo vào với đồ tốt rồi tính thành tiền đồ tốt, hàng ôi thiu thối rữa kém chất lượng đem tẩy rửa mông má lại để bán ra thành hàng tươi ngon…

Trong sản xuất thì bớt xén nguyên vật liệu, rút ruột công trình, làm hàng giả hàng nhái, gian lận giấy tờ sổ sách kế toán để moi tiền dự án bất chấp là dự án ODA hay dự án quốc gia, rút được tiền chia chác thì làm, không thì bỏ, bất kể chất lượng tốt xấu…Lại còn cái kiểu hùa nhau bỏ thầu thật thấp, chộp giật, cứ thắng thầu cái đã, làm nửa chừng thì bỏ đấy, một bên hết vốn, bên kia muốn hoàn thành kế hoạch lấy thành tích thi đua thì xin mời bỏ tiền vào…

Trong giáo dục thì trường trường lớp lớp đua nhau cho điểm vống lên, học sinh lên lớp hết để lấy thành tích, cán bộ cỡ muốn có bằng thì có người đi học thay, dân tứ chiếng muốn có bằng thì mua, điểm thi thì tẩy xóa xin xỏ, giấy báo kết quả thì mạo điểm mạo danh, vào thi thì mang theo phao, cấm đoán thế nào cũng không xuể, cha mẹ thì chạy trường chạy lớp phờ cả người, nghĩ mà kinh… (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười 5, 2009 at 11:13 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

DÂN TỘC THÍCH ĐÙA

Hai Đậu

Vâng, đó là Dân tộc Việt Nam! Dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa vốn luôn chống chọi với thú dữ, thiên tai, kẻ thù xâm lược. Nên họ luôn phải tìm đến những chuyện đùa để thư giãn và quên đi những vất vả trong cuộc sống hàng ngày. Và tinh thần đó mãi lưu truyền đến ngày hôm nay. Tôi xin được kể ra vài ba câu chuyện đùa “cười ra nước mắt” để hầu quý độc giả.

Câu chuyện thứ nhất: Lãnh đạo phải có bằng Tiến sĩ hay phải đẽo chân cho vừa giày! Quả là nói như đùa! Vì cả ba ông: Tổng Bí thư Đảng, ông Chủ Tịch nước và ông Thủ tướng, không ông nào có bằng Tiến sĩ cả. Nói như ông Tiến sĩ Lê Anh Sắc thì khác nào “tát” vào mặt ba ông lớn trên đây. Ông Tiến sĩ Lê Anh Sắc quả là “lớn mật” khi nói câu này! Sự “bất cập” trong lời nói của ông Tiến sĩ Lê Anh Sắc đã được bà con bình luận nhiều rồi. Nay xin miễn bàn thêm.

Câu chuyện thứ hai: Vụ án trọng điểm. Vâng, vụ PCI là một vụ án “trọng điểm”. Trọng điểm ở đây là số tiền rất trọng nhưng điểm thì rất nhỏ. Nên khi bắt đầu thì kêu rất to nhưng đến khi xử thì rất nhỏ! Đây không những là vụ tham nhũng gây bất bình trong người dân vì mượn tiền mà đi làm bậy. Nó còn có ý nghĩa thứ hai là làm nhục quốc thể Việt Nam. Một tội bị xử chém vào thời xưa. Do đó, ông Chủ tịch nước tuyên bố “Xử lý nghiêm khắc”. Vậy mà khi xử án ông Sĩ, có nhiều kẻ lớn mật dám gởi “công văn” tới “tha thiết” đề nghị giảm án cho ông Sĩ! Cần gì điều tra, cứ “tóm” gọn những ai “tha thiết” xin giảm tội cho ông Sĩ là xong ổ tham nhũng ngay chứ gì! Còn ông Thủ tướng thì “Biết tới đâu làm tới đó”! Vâng, sau cả năm điều tra, công tố đã “biết” ông Sĩ chỉ “cầm nhầm” 52 triệu đồng qua vụ “thuê nhà” chứ không phải “tham ô, lại quả” như lời khai của các quan chức PCI. Xin chúc mừng ông Sĩ nhé. Phen này ông kiện ngược thì PCI và Chính phủ Nhật Bản phải đền bù danh dự cho ông cả triệu đô chứ ít gì.

Câu chuyện thứ ba: Nhân thân tốt. Là Đảng viên, ai không có “nhân thân tốt”? Không tốt về tư cách, cũng tốt về lòng thành. Không tốt về lòng thành cũng tốt về họ hàng dây mơ rễ má. Không tốt về tốt về họ hàng dây mơ rễ má cũng tốt về quan hệ với cấp trên cấp dưới. Không tốt về quan hệ với cấp trên cấp dưới cũng tốt về nói năng kín kẽ “có tính đảng”… (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười 1, 2009 at 4:47 Chiều  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

Từ ảo tưởng tới thoái hoá

Phan Khôi, Báo Thần chung, năm 1929

Mấy trăm năm nay, thuyết minh đức tân dân (1) làm hại cho sĩ phu nhiều lắm, nhất là trong thời đại khoa cử thịnh hành. Buổi còn đang đi học thì người nào cũng nhằm vào hai chữ tân dân đó mà ôm những hy vọng hăo huyền, cứ tưởng rằng mình ngày sau sẽ làm ông nọ bà kia, sẽ kinh bang tế thế, rồi mình sẽ thượng trí quan, hạ trạch dân, làm nên công nghiệp(2) ghi vào thanh sử(3) đến đời đời, không ngờ thi không đậu hay đậu mà không làm ra trò chi, thì trở nên thất vọng, thiếu điều ngă ngửa người ra, tay chân xuôi lơ và bủn rủn.

Còn người khác đắc thời, thi đậu ra làm quan thì lại ỉ rằng bấy lâu mình đă có cái công phu minh đức, nghĩa là mình đă học giỏi rồi, thì bây giờ cứ việc thôi sờ học ư sở hành, chớ có lo chi.

Bởi vậy nên có những ông thượng thư bộ hộ mà làm chẳng chạy bốn phép toán, thượng thư bộ binh mà cả đời chẳng biết đến cái lưng con ngựa ra sao cái cò khẩu súng là gì. Mà rồi ông quan nào cũng như thượng đế cả, nghĩa là toàn trí, toàn năng(!).

———————————————————————————————-

(1) trích từ câu đầu tiên của sách Đại học, có nghĩa làm sáng đức và khiến dân luôn luôn đổi mới.

(2) cũng tức là sự nghiệp.

(3) thanh sét thời cổ ở Trung Quốc dùng thẻ tre để chép sử, nên lịch sử thường được gọi là thanh sử.

Đăng trong: on Tháng Chín 25, 2009 at 12:29 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags:

Chăm học nhưng chưa thoát khỏi tư cách học trò

(Phạm Quỳnh, Bàn về quốc học, Nam phong, 1931)

Nước ta vẫn có tiếng là ham học, nhưng cả nước ví như một cái trường học lớn, cả năm thầy trò chỉ ôn lại mấy quyển sách giáo khoa cũ, hết năm này đến năm khác, già đời vẫn không khỏi cái tư cách làm học trò!

Ấy cái tình trạng nước ta, sự học từ xưa đến nay và hiện ngay bây giờ cũng vẫn thế… Xưa khi học sách Tàu thì làm học trò Tàu, ngày nay học sách Tây chỉ làm học trò Tây mà thôi… chưa mấy ai là rơ rệt có cái tư cách – đừng nói đến tư cách nữa, hăy nói có cái hy vọng mà thôi – muốn độc lập trong cơi tư tưởng cả.

Như vậy thì ra giống ta chung kiếp(1) chỉ làm nô lệ về đường tinh thần hay sao? Hay là tại thần trí của ta nó bạc nhược quá không đủ cho ta cái óc tự lập.

———————————————

(1) suốt đời.

Đăng trong: on Tháng Chín 22, 2009 at 1:10 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: ,

KHÔNG CÓ CAN ĐẢM LÀ MÌNH

Nguyễn Duy Thanh, Muốn cho tiếng An Nam giàu, báo Phụ nữ tân văn, 1929)

Ông Dorgelès trong quyển Con đường cái quan có nói đến thói hay bắt chước của người mình. Đại khái ông nói rằng: “Ngày xưa người Tàu sang cai trị An Nam, người An Nam đều nhất nhất theo Tàu cả. Nay người Pháp sang bảo hộ mới được gần một trăm năm, mà nhà cửa đă theo Tây thời rất dễ dàng, nói đến tiếng An Nam thời khô khan, hình như phải dịch tiếng mình ra tiếng nước ngoài… Khoa học có nói rằng giống thằn lằn hễ bám vào cây nào thì lâu dần sẽ giống da cây ấy. Ở bên An Nam này thời không thế, thằn lằn không đổi màu da mà chính cây đổi màu da để lấy màu da thằn lằn”.

Câu nói đau đớn thay mà xét người ta nói cũng phải. …Người viết văn phải có can đảm mà dịch những chữ nước ngoài ra. Mở đầu có hơi ngang tai, sau dần rồi cũng nghe được. Cụ Nguyễn Du không can đảm sao dịch nổi chữ tang thương ra chữ bể dâu, chữ thiết diện ra chữ mặt sắt(1)… Mà cũng lạ thay cho người mình không suy xét kỹ: Người Tàu nói chữ vân cẩu tang thương có khác gì chữ mây chó chữ bể dâu không. Ấy thế mà giá mình nói “Bức tranh mây chó vẽ người bể dâu”(2) tất phần nhiều người cho là mách qué! Người Tàu trước kia làm gì có những tiếng cộng hòa, cách mạng, cá nhân, vật lý học, kỷ hà học(3)… Vì sốt sắng làm cho tiếng nước nhà giàu thêm lên, nên họ không ngại khó, rồi mới đặt ra được cái tiếng ấy. Người mình thì không thế. Muốn dịch một chữ Pháp hay chữ Anh ra tiếng nước nhà mà không dịch nổi, thì cứ việc mở ngay tự vị (4) Tàu ra, trong ấy đă sẵn sàng cả rồi. Dù người Tàu có dịch sai chăng nữa cũng mặc cứ cắm đầu cắm cổ mà chép, ai biết đến đó mà lo.

—————————————————————

(1) hai câu nguyên văn trong Truyện Kiều: “Trải qua một cuộc bể dâu” và “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vi t́nh”.

(2) một câu trong “Cung oán ngâm khúc”. “Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”

(3) tức hình học.

(4) tức từ điển.

(Còn tiếp)

Đăng trong: on Tháng Chín 16, 2009 at 8:29 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , ,
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.