Ý Nghĩa sức mạnh hòa hợp

 

Trong giáo pháp, Đức Phật có dạy sáu điều hòa hợp, gọi là lục hòa, các Phật tử  phải nhận thức những điều căn bản này để thực tập trong cuộc sống hằng ngày. Một là thân hòa đồng trụ, tức là trong gia đình, hay trong đoàn thể, dù tổ chức lớn hay nhỏ, đều phải hòa hợp với nhau; nếu không hòa hợp sẽ trở thành chống phá nhau, không thể sinh hoạt tốt đẹp, cho đến tự tiêu diệt nhau.

 

Vì vậy, khi cùng sống chung, nguyên tắc hòa hợp luôn được đặt ra trước tiên. Trong gia đình, trong đoàn thể, ý thức hòa hợp rất quan trọng, nhưng muốn hòa hợp, mọi người phải tôn trọng những nguyên tắc kỷ cương có lợi ích chung. Đối với những nguyên tắc cần tuân thủ, chúng ta gọi là giới hòa đồng tu, nghĩa là lấy giới luật làm thước đo, nếu vi phạm, sẽ bị loại ra khỏi tổ chức. Ví dụ trong đạo tràng của khóa tu Một ngày an lạc có nguyên tắc phải đăng ký; vì không đăng ký, ra vô không theo giờ giấc quy định, đạo tràng sẽ mất trang nghiêm thanh tịnh và Ban Tổ chức cũng không thể sắp xếp việc ẩm thực, việc tu học cho quý vị. Biết số lượng Phật tử để lo khẩu phần cơm trưa, vì nếu đặt phần cơm rồi, mà quý vị không đến thì phần dư phải bỏ đi, là lãng phí có tội, mà đặt ít thì sẽ không đủ cơm ăn cho quý vị, điều mà không ai muốn. Có một số người không ý thức, không tôn trọng quy định này, gây trở ngại cho việc phân phát khẩu phần ăn.

Ngoài nguyên tắc đăng ký tham dự tu học, nguyên tắc thứ hai là giới hòa đồng tu, trước nhất, vào tu trong đạo tràng, Phật tử phải mặc áo tràng. Người không đăng ký và không mặc áo tràng được xếp vào thành phần dự thính ở ngoài giới đàn, không phải là hành giả chính thức. Ngoài ra, Phật tử vào tu không được nói chuyện, chỉ lóng nghe; nếu nghe không được thì ngồi nhiếp tâm niệm Phật. Không tôn trọng nguyên tắc chung này là phá pháp, sẽ bị mời ra ngoài. Trong đạo tràng, ngoài việc tụng kinh, niệm Phật và lóng nghe các giảng sư dạy, không được làm gì khác. Nếu có những điều không hiểu, hoặc nghi ngờ, quý vị ghi vào giấy để đến giờ pháp đàm sẽ được giảng sư giải thích chung, còn những câu hỏi cá biệt thì trả lời riêng. Việc tu học của chúng ta nhằm đạt được sự an lạc giải thoát, nên việc làm trở ngại người khác không nghe pháp được là phạm tội, vì đạo tràng đang thanh tịnh, một tiếng nói nhỏ thôi cũng phá mất sự thanh tịnh của đại chúng. Từ sự yên lặng, tập trung lắng lòng nghe giáo pháp, chúng ta chẳng những nghe được âm thanh bên ngoài mà còn nghe được tiếng nói từ trong tâm của giảng sư, cho đến nghe được pháp âm vi diệu của Phật; đó chính là ngôn ngữ của Thiền dành riêng cho người có tâm hoàn toàn thanh tịnh. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 21, 2009 at 4:50 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

Hoá giải hận thù

 

Hận thù là một trong  những nghiệp ác mà  mỗi người đã tự tạo ra.  Tại sao có sự hận thù giưa người này với người khác, giữa bộ tộc này với bộ tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa tôn giáo này với tôn giáo khác. Hận thù phát xuất từ đâu.

Quan sát gần, sẽ thấy hận thù phát khởi từ tham vọng của con người. Thật vậy, hầu như mọi cuộc xung đột, sát phạt nhau trên cuộc đời này đều bắt nguồn từ lòng tham không đáy của con người ; kết quả là người được thì sanh tâm kiêu ngạo, người thua thì sanh oán thù và từ nỗi oan hận ấy gieo mầm cho tấn bi kịch trả thù tiếp theo, cứ như vậy mà mối hận thù sẽ tiếp diễn không ngừng trong nhân loại.

Dưới tuệ giác của Đức Phật, hoặc các vị thiền sư đắc đạo, từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay, tất cả moi người tạo ra không biết bao nhiêu là tội lỗi, gây ra không biết bao nhiêu là hận thù. Trong kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy rằng từ vô thỉ kiếp, do vô minh chỉ đạo mà con người tạo ra tất cả các tội ác và gây hận thù giữa người này với người khác, giữa mọi người trong cùng một gia đình và giữa nước này với nước khác. Hãy nhớ nghĩ lại xem từ vô thỉ kiếp, chúng ta đã từng làm người, làm thú, làm thần, làm quỷ, v.v… Có thể nói gần như chúng ta đóng đủ tất cả các vai trên sân khấu cuộc đời, hết làm việc thiện lại làm việc ác, hết làm ác rồi lại làm thiện; cứ như thế mà chúng ta thay hình đổi dạng, lang thang trong kiếp luân hồi sinh tử.

Sự sống của loài người, từ khởi thủy là đơn bào tiến lên đa bào, cho đến hình thành thân tứ đại của con người; trải qua quá trình sinh sống dài lâu đó, con người đã tranh giành và sát hại lẫn nhau. Có thể hiểu nghĩa “Vô thỉ kiếp” theo Phật là như vậy. Ngay từ thời bắt đầu có sự sống lúc mới hình thành vũ trụ, đã có sự cạnh tranh để sinh tồn giữa các loài; nói cách khác, loài này sống bằng cách sát hại loài khác, loài nọ phải chết đi cho sự tồn tại của loài khác nữa, v.v… Ý này được kinh Pháp Hoa diễn tả rằng các loài ăn nuốt lẫn nhau để mà sống.
Chúng ta có thể tạm chia sự sống của muôn loài thành hai nhóm là loài ăn cỏ và loài ăn thịt. Thử nghĩ xem đối với các loài ăn cỏ và đối với cỏ cây trong thiên nhiên, chúng ta có đối xử hoàn toàn tốt với chúng hay không, chúng ta không gây oán thù với chúng hay không. Cỏ cây dĩ nhiên có sự sống và ở một chừng mức nào đó, tình trạng sống của cỏ cây cũng chính là tình trạng sống của con người. Loài người vì vô minh ngăn che, nghĩ rằng cần phải cạnh tranh, phải tiêu diệt các loài khác để sống và cũng chính từ đó, con người tiêu diệt luôn cả môi trường sống của chính họ. Ngày nay, khoa học đã chứng minh cho thấy loài người phá hủy môi trường sống nhiều nhất so với các loài khác. Loài người được đánh giá là tối linh, nhưng cũng là loài cực ác so với các ác thú như hùm beo, chó sói; vì xét kỹ, chúng chỉ ăn thịt các con thú khác khi đói, còn loài người giết nhau, hay giết các loài khác không phải chỉ vì đói. Con người săn giết các loài thú để lấy da xương của chúng làm đồ dùng cho giới tự nhận là quý phái, hoặc làm đồ trang sức, thậm chí săn bắn, câu lưới để giải trí, thỏa mãn ác tính của họ. Và loài người giết nhau phần lớn vì hận thù. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 20, 2009 at 9:40 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

Phán xét

 

 

 

Khi nhìn các vì tinh tú đang  lấp lánh ở phía chân trời  ta luôn nghĩ đó là vì sao  của giây phút hiện tại. Nhưng ta có thể lầm. Cái lấp lánh mà chúng ta nhìn thấy chỉ là phần ánh sáng của vì sao đang trên đường đi về phía ta, tại vì đoạn đường phải mất hàng triệu năm mới tới, còn vì sao ấy có thể đã lặn khuất từ lâu lắm rồi. Đó là khám phá của khoa học. Nếu không có nền văn minh khoa học thì ta sẽ còn lầm lẫn rất nhiều thứ trên thế gian này khi sử dụng con mắt của mình với tầm nhìn rất giới hạn.Nhưng khoa học cũng vẫn còn lầm lẫn, khoa học vẫn luôn tiếp tục làm mới chính mình để điều chỉnh lại một cách hoàn hảo về những nhận xét trước đây và tìm tòi thêm những phát hiện mới. Cho nên mới có khoa học tiến bộ ngày nay và chắc chắn sẽ có khoa học tiến bộ trong tương lai. Nếu khoa học bám chặt những hiểu biết của mình, không chịu mở lòng ra để tiếp tục khám phá về những đối tượng mà mình đã từng đưa ra nhận xét thì đó là một nền khoa học cũ kỹ, lạc hậu và đầy nguy hiểm.

Trên thực tế khoa học cũng đang cố gắng ngày đêm để không ngừng cung cấp cho con người những hiểu biết về bản chất thật của vạn vật, nhưng số lượng vẫn còn quá ít so với những gì đang hiện hữu trong vũ trụ bao la này. Nghĩa là ta vẫn còn phải chịu vướng kẹt vào vô số cái nhìn sai lầm về thế giới vật chất chung quanh mỗi ngày.

Trái tim con người còn kỳ bí và mênh mông hơn cả vũ trụ, nếu không có một công trình nghiên cứu miệt mài và tinh xảo hơn cả khoa học thì làm sao ta có thể thông đạt?  Những dòng cảm xúc tuôn chảy bất tận, những ngõ ngách tâm ý sâu kín hay những khúc mắc chập chùng trong nhận thức luôn tạo nên những hành động bất ngờ mà ta hoàn toàn không chủ động được. Tại vì ta không hiểu biết bao nhiêu về chúng cả. Mà trái tim của ta thì ta phải tự tìm tòi khám phá chứ đâu thể trông mong vào công trình nghiên cứu nào của ai khác. Một khi ta vẫn chưa hiểu thấu được chính mình thì ta sẽ không bao giờ hiểu thấu được kẻ khác. Ước muốn đó chỉ là ảo tưởng.

Vậy mà ta vẫn thường hay tuyên bố những câu xanh rờn: Ta đã biết hết, đã hiểu hết rồi! Tại vì ta luôn có thói quen nhìn mọi thứ bằng kinh nghiệm có sẵn. Ta lười biếng quan sát bằng tất cả sự khám phá về một vấn đề hay một đôi tượng trong giờ phút hiện tại, bởi ta nghĩ mình đã từng có kiến thức và trải nghiệm về chuyện ấy, nhìn sơ qua là có thể biết ngay. Thái độ chấp chặt định kiến của ta đã khóa kín cánh cửa nhận thức, vì lẽ đó mà không biết bao nhiêu lần trong cuộc đời ta đã có những phán xét sai lầm đáng tiếc. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 19, 2009 at 1:07 Chiều  Để lại phản hồi  
Tags: , , ,

Sống tỉnh giác từng ngày

“Mùa mưa ta ở đây,
Đông, Hạ cũng ở đây,
Người ngu tâm tưởng vậy,
Không tự giác hiểm nguy”.
(Pháp Cú, 286)

Ðó là lời của Ðức Phật dạy cho ông Ðại Phú (Mahadhana), một vị thương gia, khi Ngài ngụ tại tinh xá Kỳ Viên.

Một ngày nọ, vị thương gia này dùng 500 xe bò, chất đầy vải vóc với nhiều màu nhuộm tươi đẹp, lên đường từ thành Ba La Nại đến các vùng xa để buôn bán. Khi đến thành Xá Vệ, ông ta gặp một sông lớn. Ông suy nghĩ: “Ngay mai ta sẽ qua sông”, rồi dừng xe lại, cởi ách cho các con bò, và nghỉ qua đêm tại bờ sông. Trong đêm đó, một trận bão kéo đến với cơn mưa tầm tã cả đêm. Qua bảy ngày kế tiếp, nước sông dâng cao, tạo lụt lớn, và người dân trong vùng đều phải đình chỉ mọi sự buôn bán, đi lại. Kết quả là vị thương gia đó không thể bán các kiện hàng vải của ông. Vì thế, ông ta nghĩ rằng: “Ta đã trải qua một quãng đường dài, nếu ta quay về thì lại bị trễ nải. Chi bằng ta cứ ở đây qua mùa mưa, qua mùa Xuân và mùa Hạ, tiếp tục các công việc giao dịch và cố gắng bán cho hết các loại hàng này…”.

Khi Ðức Phật đi trì bình khất thực trong thành phố, Ngài biết được ý định của vị thương gia đó và Ngài mỉm cười. Thấy thế, Ðại đức A Nan hỏi Phật vì sao Ngài cười. Ðức Thế Tôn đáp: “Này A Nan, thầy có biết ông Ðại Phú đó không?”.
“Dạ có, bạch Thế Tôn”.
“Không biết rằng mạng sống của mình đã gần hết, ông ta vừa quyết định sẽ ở lại đây cả năm để bán hết các kiện hàng của ông ấy”.
“Thật vậy sao, bạch Thế Tôn?”
“Ðúng thế, này A Nan. Ông ta chỉ sống thêm được bảy ngày nữa, và nếu không khéo, ông ta sẽ bị các loài cá ăn thịt”. Nói xong, Thế Tôn thốt lên bài kệ:

“Hãy tinh tấn thi hành
việc cần làm hôm nay.
Có ai biết chắc chắn
cái chết đến lúc nào?
Có ai chống lại được
mệnh lệnh của thần chết?
An lạc thay cho người
ngày và đêm tinh tấn
Sống tỉnh giác từng ngày!”.
“Bạch Thế Tôn, con sẽ đến nói cho ông ấy biết”, ngài A Nan thưa với Phật.
“A Nan, thầy cứ việc đi”, Ðức Phật đáp.
Ðại đức A Nan đi khất thực đến nơi ông Ðại Phú trú ngụ với đoàn xe buôn của ông. Ông ta kính cẩn dâng vật thực đến ngài. Sau đó, Ðại đức nói với vị thương gia: “Ông định ngụ lại đây trong bao lâu?”

“Bạch Ðại đức, con đã trải qua một quãng đường dài, nếu con quay về thì lại bị trễ nải. Cho nên con sẽ ở đây trọn năm, cho đến khi nào bán hết vải thì con mới ra đi”.
“Này quý cư sĩ, mặc dù mạng sống đã gần hết mà ít ai lại biết được! Ông nên tinh tấn!”.
“Bạch Ðại đức, tại sao thế? Có phải đời sống của con đã gần mãn?”.
“Ðúng vậy, quý cư sĩ. Mạng sống của ông chỉ kéo dài bảy ngày nữa thôi”.
Ông Ðại Phú rất bàng hoàng và xúc động. Sau khi bình tâm trở lại, ông thỉnh mời Ðức Phật và Tăng đoàn đến nơi ông ngụ để thọ trai. Trong bảy ngày kế tiếp, ông cúng dường vật thực đến chư Tăng, và trong ngày thứ bảy, ông xin phép được rửa bát của Đức Phật và xin Ngài chúc phúc. Trong khi chúc phúc, Ðức Thế Tôn giảng thêm:

“Này quý vị tu sĩ và cư sĩ, một người hiền trí không bao giờ nên nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ ở lại đây trong suốt mùa mưa. Tôi sẽ làm việc này, việc kia’. Trái lại, người ấy lúc nào cũng nên sống tỉnh giác từng giây khắc và luôn luôn quán chiếu về cái chết của mình như thể mình chỉ sống thêm được một đêm nữa thôi”. Sau đó, Ngài thốt lên các câu kệ dưới đây, về sau được ghi lại trong kinh Pháp Cú (kệ 286-289):

Mùa mưa ta ở đây,
đông, hạ cũng ở đây,
người ngu tâm tưởng vậy,
không tự giác hiểm nguy.
Người tâm ý đắm say
con cái và súc vât,
tử thần bắt người ấy,
như lụt trôi hàng ngũ.
Một khi tử thần đến,
không có con che chở,
không cha, không bà con,
không thân thích che chở.
Biết rõ ý nghĩa này,
bậc trí lo trì giới,
mau lẹ làm thanh tịnh,
con đường đến Niết ban.
(Pháp Cú, 286-289)

Sau khi nghe xong bài giảng, vị thương gia tỉnh ngộ, thành tâm xin quy y Tam bảo và đắc quả Dự lưu, các tu sĩ trong đoàn cũng đạt được thắng trí.
Sau đó, ông Ðại Phú đưa tiễn Ðức Phật về tinh xá. Khi quay trở lại nơi trú ngụ của mình, ông nói: “Tôi cảm thấy nhức đầu, thân thể mệt mỏi!”, và nằm xuống giường để nghỉ. Vừa nằm xuống thì ông chết, và được tái sinh vào cõi trời Ðâu Suất.

BÌNH ANSON (Theo Giacngo.vn)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 18, 2009 at 8:46 Sáng  Để lại phản hồi  

Hoa sen nơi cõi lạ

Hoa sen nơi cõi lạ. Vẫn sống đời thong dong. Vì cội nguồn nhân quả. Ẩn một hồn phương đông.  Lá  tròn  như  cánh lộng. Búp  nở  nụ  cười  hoa. Hạt sương mai rất mỏng. Rơi rụng đọng trên tòa. Bóng như lai thị hiện. Qua tâm cảnh  nên  thơ. Nở  nụ  cười  thánh thiện. Đẹp  như  lòng  bé  thơ. Mặt  hồ  im  ngái  ngủ. Làn  gió  lay  màn  xanh. Làm  lung  linh bóng rủ. Chút nắng vàng long lanh.  Hoa   sen   nơi   cõi   lạ. Vẫn sống đời như nhiên. Búp  hồng  bên  cánh lá. Đứng mĩm nụ cười hiền. Giọt nước trong như ngọc. Gió rung lòng ngất ngây. Khi  mặt  trời  mới  mọc. Hoa lồng bóng hiện bày. Lá xanh bông trắng hồng. Búp xinh như nhật nguyệt. Gối nghiêng đầu hư không. Mĩm nụ cười diễm tuyệt…

Nhớ lại những mùa hè năm xưa mỗi lần về làng, tôi hay ra ngồi bên hồ sen. Ngắm những búp sen vừa nhú lên khỏi mặt nước, cạnh những chiếc lá tròn trỉn như lòng chảo đang ngửa lên đón nắng gió của buổi sớm mai. Trên lòng những chiếc lá đang chứa những giọt sương đêm còn đọng lại. Màu xanh của lá, màu trắng của những hạt sương và mỗi khi làn gió thổi qua làm chao lượn những giọt sương lăn qua lăn lại trong lòng lá sen màu xanh non ấy, lấp lánh dưới ánh bình minh như những hạt kim cương trông thật đẹp.

Xen lẫn giữa những tàn lá sum suê, là những búp hoa sen mới vươn lên khỏi mặt nước, với màu sắc hồng nhạt, đang đong đưa trước gió như những chiếc lồng đèn con. Mủm mĩm như nụ cười e ấp của những thiếu nữ xuân thì. Khung cảnh ấy thật yên bình, khiến lòng tôi cảm thấy bâng khuâng, như quên đi cảnh sống bon chen của hiện tại. Những giây phút ấy đến bây giờ mỗi khi nhớ lại thấy thương nhớ làm sao.

Trong phút giây, cảm thấy lòng mình như đang gặp cõi an lạc nào.  Dưới ao sen, những lá sen, những búp hoa như đang nở nụ cười, như đang chan hòa một niềm vui vì không còn cảm thấy lạc loài nguồn cội, không bị cô đơn nơi cõi lạ. Vì bây giờ đã có người nhìn ngắm, đã có những người bạn đồng hành trên bước đường lưu lạc. Đang san sẻ cho nhau nỗi nhớ niềm thương, để cùng cảm thông trên bước muôn trùng.

Ở làng Mai xóm nào cũng có hồ sen, xóm thượng, xóm hạ, xóm mới và gần đây có thêm xóm Sơn Hạ với cảnh trí thật nên thơ. Có hồ nước lớn, có bóng liểu rủ và có những con đường nho nhỏ đi quanh rất xinh xắn. Không gian ở đây thật rộng khoáng mát và yên tĩnh đang trải dài theo những vườn nho bạt ngàn, những đồng hoa hướng dương khoe sắc đang vươn vai ra ngoài vô tận. Trải dài thêm những nương bắp đậu xanh tươi, nhà cửa thưa thớt, người dân hiền hòa, thật là một cảnh thanh bình. Thật là một khung trời mơ ước cho những ai đã trải qua bao cảnh thăng trầm, long đong của một quê hương chìm ngập trong tang thương, ly tán… Khung cảnh đã vậy thêm nếp sống con người cũng hồn nhiên như cây cỏ. Những Tăng Ni sinh đang tu tập tại đây cũng mang một sắc màu thanh tịnh. Phần đông tuổi còn rất trẻ, đang sống một cuộc sống lý tưởng là đem tình yêu thương để ban phát muôn phương.  

Hoa Sen người Tàu gọi là Liên Hoa, còn nhiều tên nữa như Hà Hoa (Hà trì là đầm sen hay ao sen). Tây gọi là Lotus. Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, là bậc nhất trong các Kinh Pháp khác mà Phật đã thuyết, cũng ví như hoa sen. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 9, 2009 at 8:30 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , , ,

Ô nhiễm khủng khiếp ở TRung Quốc

Omani-Vừa rồi Vedan ” được ” trao giải  thưởng cho sản phẩm vì sức khỏe cộng  đồng mặc dù công ty này là thủ phạm số một gây ra ô nhiễm nặng nề cho lưu vực sông Thị Vải. Thậm chí một số đội tàu nước ngoài đã từ chối vào luồng sông này -nơi được quy hoạch tập trung toàn bộ cảng biển lớn ở phía nam, vì tốc độ ăn mòn thân tàu quá nhanh do nước sông ô nhiễm.

Với “khả năng” đánh giá và trao giải thưởng một cách kỳ quặc như ở ta có lẽ một tương lai không xa những hình ảnh dưới đây sẽ được chú thích là được chụp tại Việt nam!

Xem những bức ảnh dưới mà rợn, mà thương. Chúng ta đi sau và học hỏi những điều hay từ họ, nhưng nhất định không thể mắc những lỗi họ đã mắc. Những bức ảnh không chú thích chụp ở TQ.

pollution_in_china_01

pollution_in_china_02

pollution_in_china_03

pollution_in_china_04

pollution_in_china_05

  (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 6, 2009 at 9:18 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: ,

Dân khí ươn hèn

Học giả Vũ Thế Khôi tổng kết 5 đặc điểm khác biệt giữa ta (người Việt) và người (Âu) trong Văn minh tân học sách – “tài liệu được coi là “cương lĩnh” của phong trào Duy tân – Nghĩa thục 1903 – 1908”, như sau:

a. Giới tư tưởng: “người” thì tự do sáng tạo, cạnh tranh; “ta” – bị cấm nghĩ, cấm bàn;

b. Giới giáo dục: “người” – giáo dục cơ bản chung (tức kiến thức phổ thông), tiếp đó mới đào tạo thực nghiệp, mỗi người được lựa chọn theo năng lực cá nhân; “ta” – một đường mòn luyện tập từ chương kinh viện cho tất cả;

c. Giới chính trị (tác giả dùng từ “kinh tế”, theo nghĩa kinh bang tế thế): “người” – dân chủ cộng hoà, bầu cử, nghị luận; “ta” – “hành chính cấm thay đổi”, “dùng người thì quý im lìm lặng lẽ”, “luật có ban bố đấy nhưng dân gian không được đọc”;

d. Giới “tính tình” (ở đây là nói về bản chất của hai loại người dân): “người” – là công dân, thống nhất với nước về lợi và quyền qua các thể chế nhà nước và dân sự; “ta” – là thần dân bị cai trị, áp chế, không được biết đến luật, chỉ được phục tùng;

e. Giới “phong tục” (ý nói về bản tính con người do hai thể chế trái ngược): “người” – cởi mở, giao lưu; “ta” – khép kín, trì trệ.

Hoạ sĩ/nhà phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng nhận xét về tính cách của người Việt là “thích ngả ngốn”, “nhẫn nhục, phục tùng”, “nịnh hót”, “ưa nịnh nọt, thích quà biếu, thích khen thưởng, thích tâng bốc cũng đồng thời thích được nghe nói dối và o bế những kẻ tâng bốc mình và không bao giờ chấp nhận phê bình.”

Nguồn: talawas Blog

Đăng trong: on Tháng Mười Một 4, 2009 at 8:05 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

LÒNG TỐT

- Ăn hộ tôi mớ rau…!

Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản. Bà cụ nhìn gã ánh mắt gần như van lơn. Gã cụp mắt, rồi liếc xuống nhìn lại bộ đồ công sở đang khoác trên người, vừa mới buổi sáng sớm. Bần thần một lát rồi gã chợt quay đi, đáp nhanh: Dạ cháu không bà ạ! Gã nhấn ga phóng nhanh như kẻ chạy trốn. Gã chợt cảm thấy có lỗi, nhưng rồi cái cảm giác ấy gã quên rất nhanh. “Mình thương người thì ai thương mình” – cái suy nghĩ ích kỷ ấy lại nhen lên trong đầu gã.

Ảnh blog Fuked sưu tầm.

Hình mang tính minh họa

- Ăn hộ tôi mớ rau cô ơi! Tiếng bà cụ yếu ớt.
- Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn!

Tiếng chan chát của một cô gái đáp lại lời bà cụ.
Gã ngoái lại, một cô gái cũng tầm tuổi gã. Cau mày đợi cô gái đi khuất, gã đi đến nói với bà:

- Rau này bà bán bao nhiêu?
- Hai nghìn một mớ – Bà cụ mừng rỡ.

Gã rút tờ mười nghìn đưa cho bà cụ.

- Sao chú mua nhiều thế?
- Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy!

Rồi gã cũng nhấn ga lao vút đi như sợ sệt ai nhìn thấy hành động vừa rồi của gã. Nhưng lần này có khác, gã cảm thấy vui vui.

Chiều hôm ấy mưa to, mưa xối xả. Gã đứng trong phòng làm việc ngắm nhìn những hạt mưa lăn qua ô cửa kính và theo đuổi nhưng suy nghĩ mông lung. Gã thích ngắm mưa, gã thích ngắm những tia chớp xé ngang trời, gã thích thả trí tưởng tượng theo những hình thù kỳ quái ấy. Chợt gã nhìn xuống hàng cây đang oằn mình trong gió, gã nghĩ đến những phận người, gã nghĩ đến bà cụ…

-Nghỉ thế đủ rồi đấy!

Giọng người trưởng phòng làm gián đoạn dòng suy tưởng của gã. Gã ngồi xuống, dán mắt vào màn hình máy tính, gã bắt đầu di chuột và quên hẳn bà cụ.

Mấy tuần liền gã không thấy bà cụ, gã cũng không để ý lắm. Gã đang bận với những bản thiết kế chưa hoàn thiện, gã đang cuống cuồng lo công trình của gã chậm tiến độ. Gã quên hẳn bà cụ.

Chiều chủ nhật gã xách xe máy chạy loanh quanh, gã vẫn thường làm như vậy và có lẽ gã cũng thích thế.

Gã ghé qua quán trà đá ven đường, nơi có mấy bà rỗi việc đang buôn chuyện.

Chưa kịp châm điếu thuốc, gã chợt giật mình bởi giọng oang oang của một bà béo:
- Bà bán rau chết rồi.
- Bà cụ hay đi qua đây hả chị? – chị bán nước khẽ hỏi.
- Tội nghiệp bà cụ! một giọng người đàn bà khác.
- Cách đây mấy tuần bà cụ giở chứng cứ ngồi dưới mưa bên mấy mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng nhất quyết không bán, rồi nghe đâu bà cụ bị cảm lạnh.

Nghe đến đây mắt gã chợt nhòa đi, điếu thuốc chợt rơi khỏi môi.

Bên tai gã vẫn ù ù giọng người đàn bà béo kia. Gã không ngờ…!

Đăng trong: on Tháng Mười 31, 2009 at 3:06 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags:

Việt Nam làm giàu tài nguyên cho nước khác

Tuần trước, một vấn đề lớn được luận bàn sôi nổi tại Quốc hội là vấn đề xuất khẩu tài nguyên (và cụ thể hơn là khoáng sản thô) khi dự thảo luật Thuế tài nguyên được đưa ra thảo luận. Tham gia thảo luận tại tổ, tổng bí thư Nông Đức Mạnh nói rằng, “đã đến lúc phải đi sâu vào chế biến và Chính phủ sắp tới phải có quy định theo hướng cấm bán tài nguyên thô ra nước ngoài”. Các đại biểu Quốc hội khác cũng tỏ ý thất vọng  do dự thảo luật này chưa xây dựng được những quy định để đi tới  việc khai thác tài nguyên, khoáng sản thô chủ yếu dành cho sản xuất trong nước. Dự luật này còn định ra một khung thuế quá rộng trong khung thuế suất cho việc xuất khẩu tài nguyên, nhất là khoáng sản có thể dẫn tới tình trạng tuỳ tiện trong quản lý, điều hành.

Nhưng đáng nói là, song song với quá trình xây dựng luật này thì một số bộ, ngành đã và đang ban hành, xây dựng những chính sách theo hướng…đẩy mạnh xuất khẩu khoáng sản thô.

Bằng chứng rõ nhất là mới đây, bộ Tài chính đã có quyết định  giảm mức thuế suất thuế xuất khẩu của mặt hàng quặng apatít từ mức 10% thành mức thuế suất thuế xuất khẩu mới là 7%. Thuế giảm đương nhiên đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh việc thu gom quặng, xuất khẩu kiếm lời. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười 27, 2009 at 9:59 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , , , ,

“Nhà vua chết rồi, Hoàng đế vạn tuế!”

Để hỏng nền đại học, xin đừng tính chuyện đổi mới

Nếu không nhờ báo VietNamNet có nhã ý tung lên mạng một bài viết của giáo sư  Neal Koblitz phản biện lại bản báo cáo được gọi là của Đại học Harvard về thực trạng giáo dục ĐH Việt Nam, thì có lẽ tôi đã quên nó mất rồi.

Quên nó đi, là vì đại học không thuộc lĩnh vực hoạt động của mình. Ấy thế rồi có tác phẩm của GS Koblitz, và tôi đã đọc kỹ bài viết tới ba lần. Đọc xong lần thứ ba thì tôi mỉm cười một mình vì chợt nhớ tới câu đùa của người Pháp “Nhà vua chết rồi, Hoàng đế vạn tuế”.  Sự thể như sau, năm 1422, khi vua nước Pháp Charles VI băng hà, và vua Charles VII lên kế vị, người dân Pháp truyền nhau tin tức đó, nhưng qua cách báo tin cho nhau, bao nhiêu thế kỷ sau ta vẫn không thể quên nụ cười mỉm của cái dân tộc rất thích tiếu lâm đó.

Để phân tích bài viết của GS Koblitz, thiết tưởng nên nhắc lại đôi chút về bản báo cáo vẫn được gọi tắt là “Báo cáo Harvard” về sự khủng hoảng của nền ĐH Việt Nam hiện thời. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười 26, 2009 at 2:29 Chiều  Để lại phản hồi  
Tags: , , ,
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.