Kiến trúc ngôi nhà đón cát khí từ thiên nhiên

Quảng Tuệ

Phong thủy học cho rằng, mọi vật trên trái đất đều tàng chứa khí. Cảnh núi sông tươi đẹp phản ánh sinh khí tràn đầy. Nơi gò tàn vách đổ thì tử khí ứ lại. ở khu vực có núi sâu đầy cảnh sắc, khí lưu thông suốt; còn khu vực núi gò hoang phế, dòng lưu động của khí bị cản trở thì khí đọng không lưu thông sẽ tác động không tốt cho nơi ở.

Từ đây phong thủy học chỉ ra rằng, khi tạo dựng ngôi nhà cần thu được cát khí( khí tốt) từ cảnh trí thiên nhiên sao cho khí từ vũ trụ chiếu xuống được lưu thông đồng nhập với ngôi nhà. Ngôi nhà nằm trong cảnh trí thiên nhiên đẹp, sẽ có nhiều sinh khí, người ở an bình làm ăn hưng vượng; nếu là nơi kinh doanh khách hàng sẽ ra vào tấp nập, lãi lớn…Song để có cái lợi đó, thì phải có kiến trúc ngôi nhà hài hoà với cảnh trí thiên nhiên, tiếp nhận đươc sinh khí của vũ trụ.

Kiến trúc phong thủy ngôi nhà không thuận với khí thiên nhiên khu vực, sẽ làm nhiễu loạn và ngăn trở lưu thông khí tự nhiên của vũ trụ, biến khí vũ trụ thành sát khí. Ngôi nhà bị sát khí bao vây rất bất lợi cho sự sống người ở hoặc cho việc làm ăn, kinh doanh…

http://files.myopera.com/hagiang215/albums/387665/IMGVPS71M3868.jpg

Quan sát ngoại hình hay ngoại cảnh một ngôi nhà có hài hoà với cảnh trí hay khí thiên nhiên hay không, phong thủy học đưa ra phương pháp đơn giản là quan sát nó vào lúc sáng sớm hay khi chiều tà, ráng chiều; nhìn ngoại cảnh hình khối ngôi nhà có ánh lên không trung sắc mầu gây được cảm súc lòng người hay có chất thơ hoặc như một bức họa tuyệt tác, độc đáo hay không. Nếu như vậy thì ngôi nhà đã đạt tới sự hài hoà đẹp nhất với sinh khí và cảnh trí thiên nhiên, nó sẽ mang lại mọi điều tốt lành cho người ở. ở một quy mô lớn, tạo hình kiến trúc một toà nhà hài hoà với cảnh trí thiên nhiên tiếp thụ được sức mạnh của khí và làm cho khí lưu thông nhịp nhàng, cũng tạo ra quyền uy và sức mạnh lan toả rộng khắp.

Đó là trường hợp của điện Cremlin ở thủ đô Matxcơva ( Liên Xô cũ ), được xây dựng từ năm 1147. Thành tường điện xây dựng theo hình răng cưa, bốn bên cung điện đều có vọng lâu to nhỏ, hình dáng khác nhau, đều sơn mầu đỏ tía, màu của sao tử vi. Bên ngoài cửa phía Đông thành là Hồng Trường, chỗ đi vào Hồng Trường ở phía Bắc có nhà Bảo tàng Cách mạng cũng sơn mầu đỏ tía. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 21, 2009 at 1:03 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , , , ,

BÀN VỀ BA KIẾT TINH

Ba kiết tinh ấy là: Sát công, Trực tinh, Nhơn chuyên.

Đây là ba Đại kiết tinh trong 9 vị theo thứ tự như sau: Yểu tinh, Hoắc tinh, Hòa đao, SÁT CÔNG, TRỰC TINH, Bốc mộc, Giác kỷ, NHƠN CHUYÊN, và Lập tảo.

1. YỂU TINH: Phàm thượng quan, cưới gã, dời chỗ, mở tiệm, khởi tạo, nhập trạch, phạm nhằm ngày có sao này, trong vòng một năm, nhơn khẩu tai hung, quan tư, mất trộm, nhà cửa ruộng vườn bị thối bại.

2. HOẮC TINH: Phàm tạo tác, cưới gả, dời chỗ, thượng quan, mở tiệm, chôn cất, phạm nhằm sao này, trong vòng 1 năm, trăm sự suy bại, lục súc tử thương, sanh con chẳng ra gì, đàn bà dâm loạn, hỏa tai, đạo tặc, quan sự, bị người khinh dễ.

3. HÒA ĐAO: Phàm thượng quan, tạo tác, dời chỗ ở, mở cửa hàng, phạm nhằm sao này nội trong 1 năm có thể gặp các việc: bịnh tật, hiếu phục, hổ thương (bị cọp làm hại) chết người.

4. SÁT CỐNG: (Tức là HIỂN TINH): Phàm tạo tác, mở đầu, cưới gả, dời chỗ ở, mở cửa hàng, thượng quan, chôn cất vân vân … gặp được sao này trong vòng 3 năm, tài lộc, chức vị tăng nhiều, đất vườn nhà cửa thêm nhiều, chủ về có con quý, lại được cha hiền con hiếu, tôi tớ có nết na, gặp nhiều việc tốt.

5. TRỰC TINH: Phàm thượng quan, cưới gả, mở tiệm, dời chỗ, tu tạo, mai táng gặp được sao này thì có nhiều việc tốt lành: làm quan thì được gia quan tấn lộc, người thường thì trăm việc được xứng tâm, buôn bán làm ăn thì thêm giàu có. Nhưng nếu gặp KIM THẦN THẤT SÁT nhứt định không trừ được sự hung. Kim thần thất sát sau sẽ bàn tới ở mục này. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười 28, 2009 at 2:25 Chiều  Để lại phản hồi  
Tags: , , ,

Những nghi lễ khi làm nhà mới của người xưa

Từ khi bắt tay vào làm nhà đến khi ngôi nhà được hoàn tất, thưở xưa người Việt phải tiến hành nhiều nghi lễ.

1.- Lễ bình cơ (平基): Gia chủ đem lễ vật cúng trên miếng đất chọn làm nhà, dọn dẹp sạch sẻ khu đất đó. Rồi sau gia chủ mới đi mời thợ đến bàn việc làm nhà.

2.- Lễ  trúc cơ (築基) :- bắt đầu đắp nền nhà. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười 8, 2009 at 9:41 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: ,

BÁT QUÁI TRẠCH ĐỒ

Sau đây là đồ Bát quái để coi phương hướng, phòng trang (phòng ốc), bếp núc và cửa nẻo. Tám đồ này chỉ rõ nhà trạch nào hạp tuổi nào, cũng có thể coi người mạng gì (Càn hay Khảm …) phương nào tốt, phương nào xấu.

Vòng trong là 8 tượng Bát quái, vòng 2 là 8 phương, vòng 3 là 24 sơn để bếp, vòng 4 là 24 sơn để cửa.

Khi tìm phương hướng phải dùng La bàn mới đúng được. Cây kim La bàn lúc nào cũng chỉ hướng Chánh Bắc, đuôi kim là Chánh Nam. Nếu ta đứng nhìn theo hướng cây kim của La bàn chỉ, thì trước mặt là Chánh Bắc, sau lưng là Chánh Nam, bên tay mặt là Chánh Đông, bên tay trái là Chánh Tây.

Trong La bàn người ta chỉ về bốn phương chánh, thường dùng những chữ viết tắc này: N=Bắc=North; S=Nam=South; E=Đông=East; W=Tây=West.

Khi muốn tìm phương tùy theo chủ nhà mạng gì: Càn hay Khảm … để chọn đồ Bát quái ở sau, rồi lấy La bàn đặt lên giữa đồ Bát quái đó, xây cái La bàn sao cho cây kim của La bàn chỉ đúng chữ N trong La bàn và xây bảng đồ Bát quái cho phương Bắc đúng chỗ cây kim La bàn. Bấy giờ mới tìm phương tốt xấu.

Nên biết các tượng Bát quái trong 8 đồ Bát quái ở sau đều xây đầu vào trong đuôi trở ra ngoài (thượng hào bên trong, hạ hào bên ngoài). (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Chín 26, 2009 at 12:43 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

PHÉP LÀM CỬA LỚN(ĐẠI MÔN)

Về ĐẠI MÔN, ta nên đọc thêm bài này ở Thông Thiên Chiếu Thủy Kinh cho rộng nghĩa:

1. Quỷ nhập Lôi môn thương Trưởng tử,

2. Hỏa kiến Thiên môn thương Lão Ông,

3. Ly xâm Tây Đoài phương thương Nữ.

4. Tốn nhập Khôn vị Mẫu ly Ông,

5. Đoài phòng Chấn, Tốn Trưởng nhi nữ,

6. Cấn, Ly Âm phụ hoại gia phong,

7. Cấn, Khảm tiểu khẩu đa tật bịnh

8. Khôn, Khảm Trung nam mạng tảo chung.

Muốn hiểu bài này, cần phải nhắc lại mấy điểm sau đây:

1. NGŨ HÀNH TƯƠNG SANH: Kim sanh Thủy, Thủy sanh Mộc, Mộc sanh Hỏa, Hỏa sanh Thổ, Thổ sanh Kim.

2. NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.

3. BÁT QUÁI SỞ THUỘC NGŨ HÀNH: Càn, Đoài thuộc Kim, Khôn, Cấn thuộc Thổ, Chấn, Tốn thuộc Mộc, Khảm=Thủy, Ly=Hỏa.

4. BÁT QUÁI TIÊU BIỂU:

CÀN: Trời, Cha, Ông già, Chồng.

KHÔN: Đất, Mẹ, Bà gia, Vợ.

CHẤN: Sấm, Trưởng nam (con trai lớn)

TỐN: Gió, Trưởng nữ (con gái lớn)

KHẢM: Nước, Trung nam (con trai giữa)

LY: Lửa, Trung nữ (con gái giữa)

CẤN: Núi, Thiếu nam (con trai út)

ĐOÀI: Đầm (hồ), Thiếu nữ (con gái út)

(Càn vi Thiên, Khôn vi Địa, Chấn vi Lôi, Tốn vi Phong, Khảm vi Thủy, Ly vi Hỏa, Cấn vi Sơn, Đoài vi Trạch)

Giải thích bài trên:

CÂU 1: Quỷ nhập Lôi môn thương Trưởng tử: Quỷ tức Ngũ quỷ. Lôi môn, Lôi là Chấn Mộc. Chấn mà phạm Ngũ quỷ tức Chấn phối với Càn (Càn phối với Chấn cũng phạm Ngũ quỷ). Như chồng Càn vợ Chấn hay chủ nhà Càn tu tạo phương Chấn hoặc trái lại, đều phạm Ngũ quỷ. Cửa chánh phương Càn, khởi tạo phòng ốc hướng Đông Chấn là hung. Bởi Càn thuộc Kim khắc Chấn Mộc. Chấn thuộc Trưởng nam, nên ứng hại ngưòi con trai trưởng. Cung Càn thuộc Tây tứ trạch, cung Chấn thuộc Đông tứ trạch, Tây phối với Đông không hợp, nên bất cứ người mạng nào ở đó cũng hung. Để bàn thờ hướng Chấn cũng kỵ người mạng Càn, người mạng Càn mà cửa hướng Chấn cũng hại Trưởng tử, cưới tuổi Chấn sanh con cũng khó dạy, tạo phòng hướng Chấn đến ngày tháng ứng hung chết Trưởng tử. Nam, nữ mạng Càn đường ra vào hướng Chấn cũng hung.

CÂU 2: Hỏa kiến Thiên môn thương Lão ông: Hỏa là cung Ly (Ly vi Hỏa), Thiên môn: Thiên là cung Càn (Càn vi Thiên). Càn phối Ly phạm Tuyệt mạng. Đại môn hướng Ly Hỏa, nhà hướng Càn Kim là cung khắc cung. Càn thuộc Lão ông bị Ly khắc nên Lão ông thọ hại.

CÂU 3: Ly xâm Tây Đoài phương thương nữ: Đại môn Chánh Nam thuộc Ly Hỏa khắc phòng nhà phương Tây Đoài Kim cũng giống như câu 2 trên, nhưng đây là cung Đoài, Đoài thuộc Thiếu nữ, nên Thiếu nữ bị hại.

CÂU 4: Tốn nhập Khôn vị Mẫu ly Ông: Đại môn phương Tốn (cũng như phương Chấn bởi Chấn, Tốn đều thuộc Mộc), phòng, nhà thuộc hướng Khôn Thổ bị Tốn Mộc khắc. Khôn thuộc Lão mẫu (Khôn vi Mẫu) nên Lão mẫu thọ hại (chết) lìa Lão ông.

CÂU 5: Đoài phòng Chấn, Tôn trưởng nhi nữ: Đại môn phương Đoài dựng nhà trạch Chấn, Chấn vi Trưởng nam. Chấn Mộc bị Đoài Kim nhắc tổn Trưởng nam (trưởng nhi), nếu dùng Tốn thuộc Trưởng nữ, Tốn thuộc Mộc vẫn bị Đoài Kim khắc tất hại Trưởng nữ.

CÂU 6: Cấn, Ly Âm phu hoại gia phong: Đại môn phương Cấn Thổ thuộc Dương, phòng trang (buồng hoặc nhà ở) an hướng Ly Hỏa thuộc Âm. Hỏa sanh Thổ, tức Âm tượng Hỏa sanh ra Dương tượng Thổ là Âm thạnh Dương suy. Đây bị đàn bà lộng quyền làm hư hoại gia phong. Vì Cấn phối hợp với Ly phạm Họa hại.

CÂU 7: Cấn Khảm tiểu khẩu đa tật bịnh: Đại môn phương Cấn, phòng ốc phương Khảm. Cấn phối với Khảm phạm Ngũ quỷ. Cấn Thổ khắc Khảm Thủy. Cấn thuộc Thiếu nam, Khảm thuộc Trung nam, tức là kỵ con trai thứ và út, sẽ sanh bất hòa và nhiều tật bịnh.

CÂU 8: Khôn, Khảm Trung nam mạng tảo chung: Đại môn phương Khôn, phòng ốc phương Khảm, Khôn Thổ khắc khảm Thủy, Khôn phối với Khảm phạm Tuyệt mạng, Khảm thuộc Trung nam, nên Trung tử bị hại. PHỤ CHÚ:

1.BÁT QUÁ ĐỊNH ÂM DƯƠNG:

-Càn vi Phụ, Chấn Trưởng nam, Khảm trung nam, Cấn thiếu nan: Bốn cung này thuộc DƯƠNG. – Khôn vi Mẫu, Tốn Trưởng nữ, Ly Trung nữ, Đoài Thiếu nữ: Bốn cung này thuộc Âm.

2.CHỦ TINH KIẾT HUNG: Sanh khí Tham lang Mộc tinh kiết: Phát Trưởng tử (con lớn). Thiên y Cự môn Thổ tinh kiết: Phát Nhị phòng (những đứa giữa). Diên niên Võ khúc tinh kiết: Phát Tiểu phòng (những đứa út). Phục vì Bồ chúc Thủy tinh kiết: Lợi cho con gái. Tuyệt mạng Phá quân Kim tinh hung: Bại Trưởng nam( con trai lớn). Ngũ quỷ Liêm trinh Hỏa tinh hung: Bại Trưởng phòng (những đứa con lớn), Họa hại Lộc tồn Thổ tinh hung: Bại Nhị phòng (những đứa giữa). Lục sát Văn xương Thủy tinh hung: Bại Tiểu phòng (mấy đứa út sau). (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Chín 25, 2009 at 9:16 Chiều  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

PHÉP THẢ ĐÒN TAY NHÀ

Phép thả đòn tay nhà, người ta thường tính theo Trực, muốn tính theo Trực phải biết thứ tự của Trực, cách tìm Trực chủ và Trực thuộc Ngũ hành.

1THỨ TỰ CỦA 12 TRỰC: Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thâu, Khai, Bế.

2. TÌM TRỰC CHỦ NHÀ: Muốn tìm Trực phải biết người đó tuổi gì, mạng gì rồi theo câu này mà tìm:

“Trâu Vàng, Chó Lửa, Dê Gỗ, Đất Nước Rồng”.

Trâu là Sửu, Vàng là Kim. Người mạng Kim thời khởi Kiến tại Sửu thuận tới tuổi của người đó thì biết được Trực.

Chó là Tuất, Lửa là Hỏa. Người mạng Hỏa thì khởi Kiến tại Tuất tính như trên.

Dê là Mùi, Gỗ là Mộc. Người mạng Mộc khởi Kiến tại Mùi tính như trên.

Đất, Nước là Thổ và Thủy, Rồng là cung Thìn. Người mạng Thổ hay mạng Thủy thì khởi Kiến tại cung Thìn rồi tính như trên.

Như người tuổi Hợi, mạng Mộc, khởi Kiến tại Mùi, Trừ tại Thân, Mãn tại Dậu, Bình tại Tuất, Định tại Hợi. Vậy người tuổi Hợi, mạng Mộc thuộc Trực Định. Tùy mạng của người điểm đến tuổi là đúng.

3. TRỰC THUỘC NGŨ HÀNH (Có bài thơ cổ nói rõ):

Cầm gươm mà chém ThànhKhai,

Người  có tài 3 gả thuộc KIM.

Định thì độc MỘC thù hiềm

TrừNguyThâu THỦY Bình tâm chế hoài

Chấp tay, Phá trận HỎA sài

MãnKiến tranh THỔ đua tài ai hơn.

Hai câu đầu nói 3 Trực  Thành, Khai và Bế thuộc KIM.

Câu 3 nói chỉ có một Trực Định thuộc MỘC.

Câu 4 nói bốn Trực: Trừ, Nguy, Thâu, Bình đều thuộc THỦY.

Câu 5: nói Trực Chấp và Trực Phá thuộc HỎA

Câu 6: nói Trực Mãn và Trực Kiến thuộc THỔ.

Sổ đòn tay mái nhà có hiệp Trực mà Trực thuộc Ngũ hành nên có sự sanh hạp hoặc xung khắc. Đòn dông làm Trạch chủ, Đòn tay thuộc vợ con và của cải, nếu Trạch chủ khắc xuống Đòn tay thì vợ con đau ốm, của tiền hao tán, bằng khắc ngược lại thì Trạch chủ bị nguy: tai nạn, đau ốm liên miên.

Thí dụ 1: Tuổi Nhâm Thân, mạng Kim là Trực Nguy thuộc Thủy. Làm nhà một mái, 4 đòn tay. Tính từ cây Đòn dông là Trực Nguy của chủ nhà điểm xuống Đòn tay: 1 là Thành, 2 là Thâu, 3 là Khai, 4 là Bế. Trực Bế thuộc Kim sanh Thủy là Trực Nguy của chủ nhà là rất tốt, phát tài, hưng vượng (Ở đây đừng hiểu lầm là Trực Bế xấu vì trường hợp này căn cứ vào Ngũ hành tương sanh hoặc tương khắc của Trực mà định xấu tốt).

Thí dụ 2: Tuổi Kỷ Hợi, mạng Mộc, Trực Định, nhà một mái, 4 đòn tay. Đặt Trực Đinh chủ nhà lên đòn dông điểm xuống đòn tay: 1 là Chấp, 2 là Phá, 3 là Nguy, 4 là Thành. Trực Thành thuộc Kim khắc Trực Định thuộc Mộc của chủ nhà là rất xấu, đừng lầm tưởng Trực Thành là tốt mà nguy hiểm với nó.

Nguồn : Sách Nghi Lễ-Thích Hoàn Thông

Đăng trong: on Tháng Chín 25, 2009 at 8:18 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: ,

PHƯƠNG HƯỚNG TU TẠO


Nói đến phương hướng tu tạo gồm có hướng nhà, hướng bếp và hướng cửa ngỏ ra vào.

Về phương thì có 8 phương là Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông nam, Tây nam, Đông bắc, Tây bắc.

Phương Đông là phương Chấn hay phương Mẹo, phương Tây là phương Đoài hay phương Dậu. Phương Nam là phương Ly hay phương Ngọ. Phương Bắc là phương Khảm hay phương Tý. Phương Đông nam là phương Tốn, phương Tây nam là phương Khôn, phương Đông bắc là phương Cấn, phương Tây bắc là phương Càn.

Về hướng thì có 24 hướng cũng gọi là 24 sơn hay 24 sơn hướng là Tuất, Càn, Hợi; Nhâm, Tý, Quý; Sửu, Cấn, Dần: Giáp, Mẹo, Ất; Thìn, Tốn, Tỵ; Bính, Ngọ, Đinh; Mùi, Khôn, Thân; Canh, Dậu, Tân.

Nhà ở, người ta day theo 8 phương hay 8 cung mà chọn tốt xấu; còn lò, bếp và cửa ngõ thì dựa theo 24 hướng mà chọn tốt xấu. Xin coi đồ hình tóm lược về phương vị Bát quái sau đây:

Vị trí của 8 cung và 24 sơn hướng ở hình Bát quái trên là vị trí cố định không thay đổi. Vòng ngoài là 24 hướng để lò, bếp vị trí nào tốt dùng khoanh trống (o), vị trị nào xấu để chấm đen (•). Trong 8 cung có chia ra làm: Đông tứ trạch và Tây tứ trạch.

Đông tứ trạch là: Khảm, Ly, Chấn, Tốn.

Tây tứ trạch là: Khôn, Cấn, Càn, Đoài.

1. VỀ HƯỚNG NHÀ :

Những người tuổi thuộc Đông tứ trạch làm nhà phải day mặt qua phương Đông tứ trạch mới tốt, còn 4 cung Tây tứ trạch là hung.

Những người tuổi thuộc Tây tứ trạch làm nhà phải ngó mặt qua Tây tứ trạch mới tốt, còn 4 cung thuộc Đông tứ trạch là hung.

Thí dụ: Người tuổi mạng Khảm (tuổi thuộc cung Khảm), nếu làm nhà day qua hướng: KHẢM được Phục vì, hướng LY được Phước đức (Diên niên) hướng CHẤN được Thiên y, hướng TỐN được Sanh khí; nhược bằng ngó qua hướng KHÔN phạm Tuyệt mạng, hướng CẤN phạm Ngũ quỷ, hướng CÀN phạm Lục sát, hướng ĐOÀI phạm Họa hại … các tuổi khác sau sẽ có bản đồ, các bạn cứ theo đây suy tìm ở bản đồ thì rõ.

2.CÁCH ĐẶT LÒ BẾP:

Những người tuổi Đông tứ trạch là Khảm, Ly, Chấn, Tốn phải để lò, bếp nơi Tây tứ trạch là để vào hướng: Khôn, Cấn, Càn, Đoài, nhưng phải lựa nơi sơn hướng tốt mà để. Như đặt lò, bếp tại hướng KHÔN thì phải để tại MÙI, THÂN kiết, KHÔN hung; đặt tại hướng CẤN phải để tại DẦN kiết, còn SỬU, CẤN hung; đặt tại hướng CÀN thì để tại TUẤT kiết còn CÀN, HỢI hung; đặt tại hướng ĐOÀI thì phải để tại CANH kiết, còn DẬU, TÂN hung. Nhưng miệng lò, bếp phải ngó ngay qua phía Khảm, Ly, Chấn, Tốn mới đúng.

Những tuổi thuộc Tây tứ trạch (hay Tây tứ mạng cũng thế) là Khôn, Cấn, Càn, Đoài thì phải đặt lò, bếp nơi Khảm, Ly, Chân, Tốn và chọn sơn nào có khoanh trống là hướng kiết mà để, còn miệng lò, bếp thì cho ngó ngay qua 4 hướng: Khôn, Cấn, Càn, Đoài.

Chú ý: Phải tùy cung mạng của chủ nhà chớ không phải thấy cung tốt trong Bát quái mà dùng được đâu.

Trong 24 sơn hướng có 12 sơn hướng hung kỵ tất cả cung mạng, dù Đông tứ trạch hay Tây tứ trạch, 12 sơn hướng ấy là: Càn, Hợi, Nhâm, Tý, Quý, Sửu, Cấn, Ất, Đính, Khôn, Dậu và Tân, 12 sơn hướng còn lại là: Tuất, Dần, Giáp, Mẹo, Thìn, Tốn, Tỵ, Bính, Ngọ, Mùi, Thân và Canh là 12 vị trí đặt lò, bếp lên đó được kiết, nhưng phải theo cung tuổi mà chọn.

Bài thơ dưới đây có ý nói vị trí an lò, bếp quan trọng chẳng kém gì hướng day miệng lò, bếp.

Khai táo môn lộ an đồng táo vị:

Táo nhập CÀN cung thị diệt môn

NHÂM, HỢI nhị vị tổn nhi tôn

GIÁP, DẦN đắc tài, THÌN, MẸO phú

CẤN, ẤT thiêu hỏa tức tào ôn

TÝ, QUÝ, KHÔN phương gia khốn khổ

SỬU phương tổn súc, gia họa ương

TỴ, BÍNH phát tài, CANH đại phú

NGỌ phương vượng vị phú nhi tôn.

TÂN, DẬU, ĐINH phương đa tật bịnh

THÂN, TỐN, MÙI, TUẤT trạch hanh thông.

Tác táo thiết kỵ dụng phấn thổ

Tân chuyên cận thủy thiết an ninh

NGHĨA:

Táo đặt vào cung CÀN thì gia môn bị suy sụp

Đặt vào 2 cung NHÂM, HỢI hại cho con, cháu.

Đặt nơi 2 cung GIÁP, DẦN có tiền, THÌN, MẸO được giàu.

Cung CẤN, cung ẤT bị ôn dịch.

Ba cung Tý, QUÝ, KHÔN nhà bị khốn khổ.

Phương SỬU hại lục súc, nhà gặp họa ương

Hai sơn TỴ, BÍNH phát tài, phương CANH đại phú.

Phương NGỌ là phương vượng, con cháu được giàu,

TÂN, DÂU, ĐINH, 3 phương này nhiều tật bịnh.

Cung: THÂN, TỐN, MÙI, TUẤT gia đạo được hanh thông.

Làm bếp rất kỵ đất dơ, dùng: Gạch mới hay đá ở mé nước rất tốt.

3.HOẢ MÔN ( MIỆNG LÒ BẾP)

Hướng day miệng Lò, Bếp có những ảnh hưởng tốt xấu ra sao?

1.      Cầu tử nghi tác Sanh khí táo: muốn cầu con, nên day miệng lò bếp qua hướng Sanh khí.

2.      Giải bịnh, trừ tai nghi tác Thiên y táo: Muốn giải bịnh, trừ tai họa, nên day miệng lò bếp qua hướng Thiên y.

3.      Khước bịnh, tăng thọ nghi tác Diên niên táo: Muốn đẩy lui bịnh tật và tăng tuổi thọ nên day miệng lò bếp qua hướng Diên niên.

4.      Cầu vi như y do tác Phục vì táo: Việc mong cầu được xứng ý do miệng lò, bếp day qua hướng Phục vì.

5.      Tranh đấu, cừu thù do tác Họa hại táo: Xảy ra việc tranh đấu, cừu thù là do miệng lò bếp day phạm hướng Họa hại.

6.      Hao tán, đạo thác do tác Lục sát táo: Bị Hư hao, trộm cắp làm mất mác do miệng lò bếp day phạm phải phương Lục sát.

7.      Quan tụng, khẩu thiệt do tác Ngũ quỷ táo: Bị việc kiện thưa, đôi chối là do miệng lò bếp day phạm hướng Ngũ quỷ.

8.      Tật bịnh, tử vong do tác Tuyệt mạng táo: Bị bịnh tật, chết chóc do miệng lò bếp day qua hướng Tuyệt mạng.

4.TÁO TOÀ (VỊ TRÍ ĐẶT  BẾP)

Vị trí để bếp chịu những ảnh hưởng tốt, xấu thế nào? Nếu để bếp:

CHIẾM PHƯƠNG THIÊN Y: Bịnh hoạn liên miên, thuốc thang không hiệu.

CHIẾM PHƯƠNG SANH KHÍ: Lâm quỷ thai, lạc thai, khó bề sanh sản. Có con cũng không thông minh, không đắc tài, không người trợ giúp, ruộng vườn, súc vật tổn thâu.

CHIẾM PHƯƠNG PHỤC VÌ: Ắt vô tài, tổn thọ, cả đời túng khó.

CHIẾM PHƯƠNG DIÊN NIÊN: Không thọ, hôn nhơn khó thành, vợ chồng không hạp, bị người gièm siểm, ruộng vườn hao tán, súc vật bịnh hoạn, gia đạo túng khó vân vân …

CHIẾM PHƯƠNG TUYỆT MẠNG: Sống lâu, không bịnh hoạn, nhiều của, không bị kiện thưa, đông con, tôi tớ không thiếu, không nạn tai thủy hỏa.

CHIẾM PHƯƠNG LỤC SÁT: Được thêm người, phát tài, không đau ốm, không bị kiện thưa, khỏi nạn tai thủy hỏa, gia môn yên ổn.

CHIẾM PHƯƠNG HỌA HẠI: Khỏi lo thối tài, không bị người hại, không bịnh hoạn, khỏi chuyện thị phi, thưa kiện.

CHIẾM PHƯƠNG NGŨ QUỶ: Không tai họa, không lo trộm cướp, tôi tớ ngay thẳng, siêng năng, đắc lực, không bịnh hoạn, cửa nhà thạnh vượng, lục súc gia tăng.

5.ĐIỀU CẤM KỴ NÊN TRÁNH:

Phòng hậu táo tiền gia đạo phá: Phòng ở phía sau, bếp ở phía trước gia đạo hư.

Táo hậu phòng tiền tử tôn bất hiền: Bếp ở phía sau, phòng ở phía trước con cháu chẳng hiền.

Phòng tiền hữu táo tại MÙI, KHÔN, SỬU, CẤN thượng, sanh tà quái chi họa: Trước phòng có bếp mà bếp lại đặt trên 4 cung MÙI, KHÔN, SỬU, CẤN sẽ sanh ra tai họa tà quái.

Phong tiền hữu táo, tâm thống khước tật: Trước buồng có để bếp bị bịnh tâm thống (đau tức ở tim) và bịnh ống chân.

Đồng hạ hữu táo chủ âm lao kiếp: Làm bếp ngay dưới cây đòn dông nhà chủ về người đàn bà bị bịnh lao và bị mất cướp.

Khai môn đối táo tài súc đa hao: Làm cửa đối diện với miệng lò bếp thì của cải và lục súc bị hao hớt đi nhiều.

Khanh hãm nhược đối táo, chủ nhãn tật, tà sự đa đoan: Hầm hố nếu đối diện với bếp thì chủ về bịnh mắt, sanh ra nhiều việc tà quái.

Táo hậu phòng tiền tai họa liên miên: Bếp phía sau buồng phía trước sẽ gặp tai họa liền liền.

Táo hậu phòng khanh tuyệt tự cô quả: Bếp để ở phía sau buồng và hầm bị tuyệt tự (không người nối dõ), cô quả (góa bụa).

Tỉnh táo tương liên cô, sưu bất hiền: Giếng và bếp đối diện nhau thì mẹ chồng và nàng dâu không có đạo đức.

Táo tại MẸO phương mạng phụ yểu vong: Bếp đặt tại phương MẸO thì bực Mạng phụ (phu nhơn = vợ) bị chết oan.

Táo tại CẤN biên gia đạo bất diên: Bếp ở về hướng CẤN gia đạo không bền lâu được.

6.PHÉP ĐỂ CỬA:

Đây là nói về ĐẠI MÔN tức cửa CHÁNH hay cổng (cửa ngõ) nếu nhà không có cửa ngõ, như ở thành phố thì lấy cửa lớn trước nhà làm chánh.

Muốn làm cửa chánh, phải làm trên 4 cung tốt. Nghĩa là những người thuộc Đông tứ mạng phải làm cửa trên cung Đông tứ trạch là Khảm, Ly, Chấn, Tốn; những người thuộc Tây tứ mạng thì làm cửa trên 4 cung Tay tứ trạch là Khôn, Cấn, Càn, Đoài mới đúng cách, song còn phải chọn trong 24 sơn hướng về cửa nẻo, coi sơn hướng nào tốt thì dùng, sơn hướng nào xấu thì tránh mới được.

Hai mươi bốn sơn hướng về cửa nẻo có tên như sau:

1.      Phước đức o

2.      Ôn hoàng •

3.      Tấn tài o

4.      Trường bịnh •

5.      Tố tụng •

6.      Quan tước  o

7.      Quan quý o

8.      Tử ải •

9.      Vượng trang  o

10.  Hưng phước  o

11.  Pháp trường •

12.  Điên cuồng •

13.  Khẩu thiệt •

14.  Vượng tằm o

15.  Tấn điền o

16.  Khốc khấp •

17.  Cô quả •

18.  Vinh phú  o

19.  Thiếu vong •

20.  Xương dâm •

21.  Thân hôn  o

22.  Hoan lạc   o

23.  Bại tuyệt •

24.  Vượng tài o

Trong 24 cung an môn ở trên, những cung nào ở sau có dấu tròn trống giữa (o) là tốt, chấm đen (•) là xấu. Hai mươi bốn cung này, người ta theo MÔN LÂU NGỌC BỐI KINH lập thành 8 đồ bát quái sẽ viết ở sau cùng của phần này, các vị cứ coi theo đó mà an môn khỏi phải tính toán gì cả. Giờ xin ghi những bài giải thích về sự kiết hung của 24 cung này để được rõ hơn:

1.PHƯỚC ĐỨC (tốt o)

PHƯỚC ĐỨC khai môn đại kiết xương

Niên niên tấn bảo đắc điền trang

Chủ tăng điền địa kim ngân khí

Hựu sanh quý tử bất tầm thường.

2.ÔN HOÀNG (xấu • )

ÔN HOÀNG chi vị mạc khai môn

Tam niên ngũ tái nhiễm thời ôn

Cánh hữu ngoại nhơn lai tự ải

Nữ nhơn sanh sản mạng nan tồn.

3.TẤN TÀI (tốt o)

TẤN TÀI chi vị thị tài tinh

Tại thữ an môn bá sự thành

Lục súc điền viên nhơn khẩu vượng

Gia quan tấn tước hữu thành danh.

4.TRƯỜNG BỊNH (xấu •)

TRƯỜNG BỊNH chi vị tật bịnh trùng

Thử vị môn lập kiến hung

Gia trưởng hộ đinh mục tật hoạn

Thiếu niên bạo tử lao ngục trung.

5.TỐ TỤNG (xấu •)

TỐ TỤNG chi phương đản bất tường

Án môn chiêu họa nặc phi ương

Điền viên, tại vật âm nhơn (đàn bà) hoại

Thời tao khẩu thiệt não nhơn trường.

6.QUAN TƯỚC (tốt o)

An môn QUAN TƯỚC  tối cao cuờng

Sĩ quan cao quyền nhập đế hương

Thứ nhơn điền địa tiền tài vượng

Thiên ban kiết khánh tổng tương đương

7.QUAN QUÝ (tốt o)

QUAN QUÝ vị thượng hảo an môn

Đinh chủ danh văn vị tước tôn

Điền địa thứ tai nhơn khẩu vượng

Kim ngân tài vật bất tu luân.

8. TỬ ẢI (xấu •)

TỬ ẢI vị thượng bất tương đương

An môn lập kiến hữu tai ương

Đao binh hoạnh họa tào hoành sự

Ly hương tử ải nữ nhơn thương.

9.VƯỢNG TRANG (tốt o)

VƯỢNG TRANG an môn tối kiết xương

Tấn tài tấn bảo cập điền trang

Bắc nhơn thủy, âm nhơn tấn khiết

Đại hoạnh tàm ty lợi thắng thường.

10.HƯNG PHƯỚC (tốt o)

HƯNG PHƯỚC an môn thọ mạng trường

Niên niên tứ quý thiểu tai ương

Sĩ nhơn tấn chức đa quan lộc

Thứ nhơn phát phước tấn điền trang.

11.PHÁP TRƯỜNG (xấu •)

PHÁP TRƯỜNG vị thượng đại hung ương

Nhược an thử vị thọ thương trường

Phi tai, lao ngục phu dả sảo

Lưu đồ, phát phối xuất tha hương.

12.ĐIÊN CUỒNG (xấu •)

ĐIÊN CUỒNG chi vị bất khả khai

Sanh ly, tử biệt cập điên tà

Đoạn địa, tiêu thối nhơn khẩu bại

Thủy hỏa, ôn hoàng tuyệt diệt gia.

13.KHẨU THIỆT (xấu •)

KHẨU THIỆT an môn tối bất tường

Thường chiêu vô hảnh, hoạnh tai ương

Phu thê tương tiển nhựt trực hữu

Vô đoan huynh đệ đấu tranh cường.

14.VƯỢNG TẦM (tốt o)

VƯỢNG TÂM vị thượng hảo tu phương

Thử vị an môn gia đạo xương

Lục súc tàm ty giai đại lợi

Tọa thâu mễ cốc mãn tương thương.

15.TẤN ĐIỀN (tốt o)

TẤN ĐIỀN vị thượng phước miên miên

Thường chiêu tài bảo tử tôn hiền

Cánh hữu ngoại nhơn lai ký vật

Kim ngân tài vật phú điền viên.

16.KHỐC KHẤP (xấu •)

KHỐC KHẤP chi vị bất khả khai

Niên niên chi vị đáo gia lai

Uổng tử thiếu vong nam tổn nữ

Bi đề lưu lụy viết đinh tai.

17.CÔ QUẢ (xấu •)

CÔ QUẢ chi phương thi đại hung

Tu chi quả phụ tọa đường trung

Lục súc điền tàm cu tổn bại

Cánh liêm nhơn tán tẩu tây đông.

18.VINH PHÚ (tốt o)

VINH PHÚ vị thượng tối kham tu

An môn  đương đích vượng nhơn châu

Phát tích gia đình vô tai họa,

Phú quý vinh huê sự tối thâu.

19.THIẾU VONG (xấu •)

THIẾU VONG chi vị bất khả đàm

Nhứt niên chi nội khốc thinh thê

Háo tửu, âm nhơn tự ải tử

Lôi môn thương tử, tử thiên khê.

20.XƯƠNG DÂM (xấu •)

XƯƠNG DÂM chi vị bất kham tu

Tu chi dâm loạn thị vô hưu

Thất nữ, hoại thai tùy nhập định

Nhứt gia đại tiểu bất tri tu.

21.THÂN HÔN (tốt o)

THÂN HÔN vị thượng hảo tu phương

Tu chi thân diệc chúng hiền lương

Đương thời lai vãng đa kiết khánh

Kim ngân tài bảo mãn dinh thương.

22.HOAN LẠC (tốt o)

HOAN LẠC tu môn cánh tấn tài,

Thường hữu âm nhơn vị tống lai.

Điền tàm lục súc giai hưng vượng,

Phát phước, thinh danh thọ tợ lôi.

23.TUYỆT BẠI (xấu •)

TUYỆT BẠI chi phương bất khả tu

Tu chi linh lạc bất kham sầu

Nhơn đinh tổn diệt vô tông chiếc

Ohụ tử Đông, Tây các tự cầu.

24.VƯỢNG TÀI (tốt o)

VƯỢNG TÀI môn thượng yếu quân tri

Phú quý lũng (đầy) thương nhậm phát uy,

Hiếu đạo, nhơn đinh gia nghiệp thắng,

Nhứt sanh phong hậu thọ tề my.

Nguồn :Sách Nghi Lễ-Thích Hoàng Thông

Đăng trong: on Tháng Chín 25, 2009 at 5:00 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

LUẬN VỀ HOANG ỐC VÀ KIM LÂU

Khi muốn xây cất nhà cửa ta phải coi cả HOANG ỐC và KIM LÂU nếu đều tốt hết thì mới làm được, còn một bên tốt một bên xấu thì phải tránh. Chỉ trừ 8 tuổi sau đây là không kỵ KIM LÂU, nếu xem bên HOANG ỐC tốt thì tạo tác được.

Tám tuổi trong vòng LỤC GIÁP (60 tuổi) đó là:

Tân Mùi, Nhâm Thân không,

Kỷ Sửu, Canh Dần đồng,

Tân Sửu, Nhâm Dần thị,

Kỷ Mùi, Canh Thân không.

1. BÀN TAY HOANG ỐC

Đại số, tiểu số đều liên tiết, thuận hành. Khởi 10 tại Nhứt kiết, 20 tại Nhì Nghi, 30 tại Tam Địa sát … hết số chục đến số lẽ, cho tới tuổi của người coi.

Trong đây: NHỨT KIẾT, NHÌ NGHI, TỨ TẤN TÀI là tốt, còn TAM ĐỊA SÁT, NGŨ THỌ TỬ, LỤC HOANG ỐC là xấu.

Thí dụ: Người 44 tuổi làm nhà. Khởi 10 tại KIẾT, 20 tại NGHI, 30 tại ĐỊA SÁT, 40 tại TẤN TÀI, 41 tại THỌ TỬ, 42 tại HOANG ỐC, 43 tại KIẾT, 44 tại NGHI; 44 tuổi được NHÌ NGHI: tốt.

Nhứt kiết an cư thông vạn sự

Nhì Nghi tấn thất địa sanh tài

Tam Sát nhơn do giai đắc bịnh

Tứ tấn tài chi phước lộc lai

Ngũ tử ly thân phỏng tử biệt

Lục ốc tạo gia bất khả thành.

2.BÀN TAY KIM LÂU

Đại, tiểu số đều liên tiết, thuận hành. Khi gặp số 5 và 50 thì nhập Trung cung (chỗ này, các nhà chỉ cho con số 50 mới nhập Trung cung còn các con số 5 khác thì đi luôn, (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Chín 24, 2009 at 10:30 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: ,
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.