CÁCH KHẤN VÁI VÀ PHẨM VẬT CÚNG TẾ

“Từ trước đến giờ, ở trang Web nầy, tôi chỉ thấy có những tài liệu về cúng kiến, theo tập tục và văn phong miền Bắc. Nay tôi xin mạo muội gởi lên một bài tạm gọi là “hướng dẫn” về cúng kiến mấy nội dung thông dụng trong sinh hoạt.

Viết theo tập quán địa phương và lời lẻ nôm na của người bình dân miền Nam. Mong quí vị thông cảm , bỏ lỗi cho. Xin cám ơn”-Nhược Thủy

I.- CÚNG ĐẤT ĐAI:-
A/-Phẩm vật:-
1/-Đào móng xây nhà:-5 chè, 3 xôi, 1 dĩa trái cây thường, 1 bình bông, 1 dĩa trầu cau, trà, rượu, đèn, nhang (lư hương). Sắp chung bàn nhưng chia thành 2 mâm: mâm đất đai và mâm cúng Tổ của thợ.
2/- Dựng nhà:- 5 chè, 3 xôi, 1 dĩa trái cây ngũ quả (5 thứ, thường dùng: thơm, mãng cầu, dừa, đu đủ,  xoài hoặc trái sung ), 1 bình bông, 1 dĩa trầu cau, trà, rượu, đèn, nhang (lư hương). Sắp chung bàn nhưng chia thành 2 mâm: mâm đất đai và mâm cúng Tổ của thợ.
3/-Về nhà mới:- 5 chè, 3 xôi, 1 dĩa trái cây ngũ quả (có phủ kín bằng tờ giấy hồng đơn đỏ ), 1 bình bông, 1 dĩa trầu cau, trà, rượu, đèn, nhang (lư hương). Sắp chung bàn nhưng chia thành 2 mâm: mâm đất đai và mâm cúng Tổ của thợ. Hoặc nếu nấu mâm cơm canh để cúng thì miễn bớt chè xôi.
4/-Khai trương:- 4 chè, 2 xôi, 1 dĩa trái cây thường, 1 bình bông, 1 dĩa trầu cau, trà, rượu, đèn, nhang (lư hương).
5/- Lấy huyệt mã hoặc bốc mộ (cải táng) :- 1 dĩa tam sênh (tam sanh) :- khổ thịt  heo luộc, trứng vịt (ga), tôm khô, trà , rượu, đèn cầy , nhang.

B.- Cách vái nguyện:-
Thắp 3 (hoặc 5 ) cây nhang, châm đèn, rót trà, rượu, đưa nhang lên trán khấn nguyện :-
“Nam-mô A-Di-Đà Phật,
Trời che đất chở, nước có quốc thánh, làng có hương thần, nơi ngụ cư có Đất Đai Viên Trạch. Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……… (ÂL), con tên họ là …………(xưng họ tên), ……….tuổi, hiện ở tại ………(ấp, xã, huyện, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, kính trình “ĐẤT ĐAI VIÊN TRẠCH” nhậm lễ chứng minh, cho phép con được (đào móng, dựng nhà v.v…). Kính xin Đất Đai phù hộ độ trì cho công việc  ……… (Nếu là đào móng, xây, dựng  nhà,  thì vái cho được tiến triển tốt đẹp, an toàn khi làm việc, chủ thợ đều bình an, nhanh chóng thuận lợi, vui vẻ mọi bề …// Nếu về nhà mới thì vái cho  toàn gia được bình an mạnh khỏe, đời sống được ấm no, sung túc, trên thuận dưới hòa, v.v… // Nếu là khai trương thì vái được thuận lợi, mua may bán đắt, chủ khách vui vầy, tiền bạc bốn phương tụ về, xuân hạ thu đông đều  phát đạt v.v… // Nếu là lấy huyệt mã… thì vái : cho phép được lấy huyệt (hay bốc mộ…)  của (Ông, Bà, cha, mẹ, anh, chị , em …) chúng tôi, tên họ là :…………….,
……tuổi, mất ngày……., tháng………, năm………… (ÂL).
Trời Đất che chở, thánh thần thiêng liêng, kính mong Đất Đai Viên Trạch độ trì , vạn sự tốt lành. Chúng con vô cùng biết ơn. Mô Phật”.
*Đọc câu thần chú sau 3 lần :- “Nam-mô tam mãn đa, một đà nẫm, án độ rô, độ rô, địa vĩ  ta bà ha”. Châm trà rượu mỗi thứ đủ 3 lần.

II.- CÚNG TỔ CỦA THỢ :- (Trong lễ đào móng (động thổ), dựng nhà (gác đòn tay, kèo ), khai trương ngành nghề ……)
A/-Phẩm vật:- Thông thường là con gà luộc tréo cánh, nếu không có thì 3 chè, 1 xôi cũng được.
-1 bình bông, 1 đĩa trái cây thường,  gạo muối. *Quan trọng là nhớ đặt “TIỀN TỔ” !
B/- Khấn nguyện:-“ Nam-mô A-Di-Đà Phật,
Tay nghề khéo léo, nhờ ơn Tổ—Cuộc sống vươn lên, nhớ đức Sư.
Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……… (ÂL), con tên họ là …………(xưng họ tên), ……….tuổi, hiện ở tại ………(ấp, xã, huyện, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, kính trình “THẬP NHỊ CÔNG NGHỆ TỔ SƯ, LỖ BAN TỔ SƯ ” nhậm lễ chứng minh, cho phép chúng con được (đào móng, dựng nhà v.v…). Kính xin chư vị Tổ Sư hiển kinh phù hộ độ trì chúng con được …
tốt đẹp, an toàn khi làm việc, chủ thợ đều bình an, nhanh chóng thuận lợi, vui vẻ mọi bề …// Nếu về nhà mới thì vái cho  toàn gia được bình an mạnh khỏe, đời sống được ấm no, sung túc, trên thuận dưới hòa, v.v… // Nếu là khai trương thì vái được thuận lợi, nghề nghiệp ngày thêm tinh xảo khéo léo, mua may bán đắt, chủ khách vui vầy, tiền bạc bốn phương tụ về, xuân hạ thu đông đều  phát đạt v.v…Chúng con vô cùng biết ơn quí Tổ. Mô Phật”.

III.- CÚNG ÔNG BÀ TỔ TIÊN:-

A/-Phẩm vật:- Nấu mâm cơm canh để cúng là gọn nhất, nếu không có thì có gì cúng nấy, chè xôi hoa quả gì cũng tốt, cốt ở lòng thành tưởng nhớ ông bà là tốt rồi.
B/-Khấn nguyện:-
“Nam-mô A-Di-Đà Phật,
Cây có cội, nước có nguồn; người phải có tổ tiên, ông bà, cha me. Hương lửa lưu truyền, có thân lớn khôn đây là nhờ ơn Cửu Huyền ban phước. Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……… (ÂL), con tên họ là …………(xưng họ tên), ……….tuổi, hiện ở tại ………(ấp, xã, huyện, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, kính trình “CỬU HUYỀN THẤT TỔ, NỘI NGOẠI TÔNG THÂN” nhậm lễ chứng minh, cho phép con được (đào móng, dựng nhà v.v…). Kính xin Ông Bà Tổ Tiên phù hộ độ trì cho công việc  ……… (Nếu là đào móng, xây, dựng  nhà,  thì vái cho được tiến triển tốt đẹp, an toàn khi làm việc, chủ thợ đều bình an, nhanh chóng thuận lợi, vui vẻ mọi bề …// Nếu về nhà mới thì vái cho  toàn gia được bình an mạnh khỏe, đời sống được ấm no, sung túc, trên thuận dưới hòa, v.v… // Nếu là khai trương thì vái được thuận lợi, mua may bán đắt, chủ khách vui vầy, tiền bạc bốn phương tụ về, xuân hạ thu đông đều  phát đạt v.v…
*Đọc câu thần chú sau đây 3 lần:- “Án nga nga nẵng, tam bà phạ, phiệt nhựt ra hồng”.

IV.- CÚNG CÔ HỒN CHIẾN SĨ:-
A/-Bày trên mâm hoặc sàng hay nia, trải ra xếp đều trên mâm các thứ sau:-
-Giấy áo cắc đảng (các đẳng) ngũ sắc, giấy tiền vàng bạc (thường hoặc đại cũng được), bánh ngọt, kẹo………… nhiều thứ, thuốc hút, 1 dĩa gạo muối, 4 chung trà, 4 chung rượu, bông trái tùy  ý.

B/- Khấn nguyện:- Châm đèn, đốt 10 cây nhang, vái :-
“Nam-mô A-Di-Đà Phật, Trời đất thuận lý, âm dương an bài. Trời cao đất dày che chở, âm siêu dương thới xưa nay. Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……… (ÂL), con tên họ là …………(xưng họ tên), ……….tuổi, hiện ở tại ………(ấp, xã, huyện, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, cung thỉnh  “MƯỜI PHƯƠNG CHỦNG LOẠI CÔ HỒN, CÁC ĐẲNG CHIẾN SĨ” về đây thọ tài hưởng lộc, trợ giúp tôi được (đào móng, dựng nhà, về nhà mới, khai trương  buôn bán cửa tiệm gì…………hoặc xuất hành chiếc xe loại gì…… mang biển số là………………v.v…). Kính xin chư vị, thọ nhơn tài hãy cứu nhơn tai, giúp đỡ chúng tôi trong công việc ……… được đầu xuôi đuôi lọt, khách thuận chủ hòa, tất cả đồng vui vẻ, đi về bình an v.v…Chúng tôi xin biết ơn và hậu tạ sau nầy”.

*Đọc  bài  chú vãng sanh sau 3 lần :- “Nam-mô a-di-đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha, a di rị đô bà tì, a di rị đa tất đam bà tì . A di rị đa tì ca lan đế, a di rị đa tì ca lan đa. Dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha”. Nam-mô A-Di-Đà Phật. (3 lần)

*Cúng xong, rải gạo muối ra bốn hướng, đốt giấy tiền vàng bạc, giấy áo v.v…Bánh kẹo các thứ thì phát cho trẻ con.

NHƯỢC  THỦY

Nguồn : Hoangthantai.com

Đăng trong: on Tháng Mười Hai 8, 2009 at 2:25 Chiều  Để lại phản hồi  
Tags: ,

Dã đàm Tả Ao (iv)

 

137. Dần Long hai hướng: Khôn, Thân (hình 12)


Hình 12: Dần Long

Giải thích câu 137 (hình 12)

Nếu là Dần long thì hay có 2 hướng huyệt:

1. Tọa Cấn hướng Khôn

2. Tọa Dần hướng Thân.

138. Giáp Long Đinh hướng về phần:

Càn Khôn


Hình 13: Giáp Long

Giải thích câu 138 (hình 13)

b). Nếu là Giáp long hay có 2 hướng huyệt:

1. Tọa Tốn hướng Càn

2. Tọa Cấn hướng Khôn

139. Mão Long 4 hướng kể rồn (hình 14)

140. Canh, Tân, Đinh, Hợi đã yên một bề.


Hình 14: Mão Long

Giải thích câu 139 – 140 (hình 14)

Nếu là Mão long thì hay có 4 hướng huyệt:

1. Tọa Giáp hướng Canh

2. Tọa Ất hướng Tân

3. Tọa Quý hướng Đinh

4. Tọa Tỵ hướng Hợi. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 22, 2009 at 5:55 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , , , ,

DÃ ĐÀM TẢ AO (iii)

C. Nói thêm

Nhân tiện nói về long tả toàn và long hữu toàn, cụ Tả Ao nói thêm những gì ở chỗ long gặp thủy.

61. Bên trước nước đã hợp thâu.

62. Lai nhận có đống bên sau chăng là.

Hai câu này là 2 câu chuyển, đại ý như sau:

Trên kia đã nói về nước gặp long

Bây giờ nói đến phần đất ở chỗ nước gặp long đó, phần đất này có khi là thuận long (đi xuôi theo chiều nước).

Có khi là nghịch long (đi ngược chiều nước).

Có khi là hoành long (xoay ngang chiều nước chảy).

Xem hình vẽ dưới đây sẽ thấy:


Với 3 thế long này, cụ Tả Ao chỉ lưu ý đến thế Hoành long vì nó có cách đặc biệt:

63. Hoành long thì nước thực thà.

64. Dù chẳng có nước, ắt là đối không.

Có nghĩa là khi long quay ngang ra thường xa nước Chính (tức dòng nước lớn) xa như thế nên hay bị cạn nước ở minh đường (nước thực thà).

Cũng có khi xa quá, đến nổi không có nước ở minh đường nữa (đối không).

Tiếp theo cụ nói thêm về sự có âm dương phối hợp, chắc chắn có đất kết.

65. Âm dương đã có thư hùng.

66. Cửa nhà đã hợp vợ chồng liên giao.

Có nghĩa là nếu có âm dương gặp nhau như:

a. Âm thủy hội với dương thủy hay dương thủy hội với âm thủy hoặc

b. Long đi chiều dương gặp thủy đi chiều âm hay là long đi chiều âm gặp thủy đi chiều dương.

Là đực gặp cái hay cái gặp đực, hay nói cách khác: thư gặp hùng (âm gặp dương) hay hùng gặp thư (dương gặp âm).

Sinh vật sinh sôi, nẩy nở là nhờ có âm dương phối hợp thì khoa địa lý cũng có âm dương phối hợp mới tạo ra được đất kết.

Âm dương phối hợp cũng như vợ chồng làm sứ mạng truyền giống (liên giao).

Mà đã làm sứ mạng truyền giống thì xảy ra:

67. Ắt là khí dựng thai bào.

68. Tự nhiên sinh dục lẽ nào khác vay.

Ắt là có thai (khí dựng thai bào)

Tự nhiên sẽ sinh đẻ (tự nhiên sinh dục) chứ còn gì nữa

Còn đất nếu cũng theo đúng định luật của dịch lý:

“Có âm dương, có vợ chồng”.

Dẫu tử thiên địa cũng vòng phu thê”.

Cũng phải có âm dương phối hợp chặt chẽ, mới tạo ra được đất kết. Nếu không được như thế thì không có kết quả, đây là định luật quan trọng chi phối toàn thể khoa địa lý.

Người có người đẻ ra con trung hiếu, hiền lương hay ác độc thì đất cũng có đất sinh nhân làm rạng danh dòng họ hoặc là sinh ra phường trộm cắp, ngu si. Đến đó phải còn nhiều yếu tố phải bàn đến nữa như long, sa, thủy, hướng, huyệt… Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng sau.

Cụ Tả Ao còn nói thêm sự kết phát là do chân long chính huyệt. Chân long, chính huyệt không thể bỏ qua luật âm dương phối hợp, đã trình bày ở trên.

69. Chân long chính huyệt ở đây

Đến đây, Cụ Tả Ao lại xoay sang vấn đề đất hoành kỵ.

70. Ấy đất Hoành Kỵ lời thầy truyền ta.

Trên đã nói đất Hoành long rồi bây giờ nói đến Hoành kỵ. Hoành kỵ phải có chỗ khác Hoành long.

Hoành là ngang, Kỵ là cưỡi.

Đất hoành kỵ là huyệt kết ở trên lưng hoành long. Chỗ đất kết ở trên lưng trông như người cưỡi trên lưng rồng, lưng ngựa, nên gọi là hoành kỵ.

Nếu đất kết trên đầu long thì sau đất kết một chút là tới minh đường.

Còn đất kết trên lưng long thì long còn chạy lâu nữa mới tới minh đường. Kết hoành kỵ mà huyệt kết còn ở xa minh đường còn được gọi là kết thoái.

Chỗ đất tiếp theo huyệt kết này các cụ gọi là chiêu thần.

Vì chiêu thần ở đất kết thoái này dài hơn chiên thần ở đất kết thường, nên cụ Tả Ao cho biết:

71. Kết thoái dư khí còn xa.

72. Phải đi trăm dặm mới ra chiên thần.

Kết thường thì dư khí (chiên thần) còn một ít thước nữa là đến minh đường, nhưng kết thoái (đất hoành kỵ) thì dư khí (chiên thần) có khi đi đến rất xa mới hết, mới đến minh đường.

Cái khó của sự điểm huyệt và cũng ở khoa địa lý là những cái khúc mắc chúng tôi vừa trình bày, và sẽ trình bày nữa sau này.

Sở dĩ bộ địa lý thứ hai này (Dã Đàm Tả Ao) chúng tôi phải sửa chữa kê cứu liền 4 năm mới dám cho xuất bản là vì phải cố gắng trình bày cho rõ ràng những chỗ khúc mắc.

Tuy đã cố gắng lắm, nhưng khoa địa lý thật là mênh mông, nếu còn thiếu sót nào thì kính xin các vị chân sư chỉ giáo cho, chúng tôi rất đa tạ.

CHƯƠNG THỨ BẢY

THỦY PHÁP

73. Muốn sinh: tử tức, vượng nhân

74. Thì tìm Sinh vị, bản thần triều lai

75. Muốn thăng: quan tước, lộc tài

76. Thì tìm Vượng vị thủy lai hội đường.

77. Cứ nơi mạch ấy cho tường

78. Tả thuận, hữu nghịch, hai đường cho thông.

79. Lập huyệt, tọa hướng mới dùng.

80. Cứ phép bão lại: huyền không ngũ hành.

81. Cứ như thủy pháp Nang kinh

82. Kim, Mộc, Thủy, Hỏa thông minh như lề

83. Năm hành phỏng luận một vì.

84. Bình mộc: Giáp, Ất – Giáp thì mộc dương

85. Ất là âm mộc đã tường

86. Phỏng đây suy biết: âm dương, ngũ hành.

87. Cứ đó mà khởi tràng sinh.

88. Giáp sinh tại Hợi, Ất dành Ngọ cung

89. Hợi thuận, Ngọ nghịch hai dòng.

90. Hẳn còn xuôi ngược cho thông một vì.

91. Nước Sinh, nước Vượng chầu về.

92. Nước Tử, nước Tuyệt chảy đi mặc lòng.

93. Cứ hướng làm chủ bản cung.

94. Kim, Mộc, Thủy, Thổ cho thông hướng nào.

95. Nhất thì được nước Sinh vào.

96. Nhì thì được nước Khắc vào hướng ta.

97. Mong sao Sinh, Khắc đến ta.

98. Là nước ấy có ích, chỉ ta hòa dùng.

CHƯƠNG THỨ BẢY

THỦY PHÁP

Đây là thủy pháp, phần quan trọng, rắc rối nhất, và khó giải thích nhất, của Khoa địa lý, cụ Tả Ao nói sơ lược phần nhỏ nhưng là thực hành. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 21, 2009 at 6:47 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , , , , ,

Ý Nghĩa sức mạnh hòa hợp

 

Trong giáo pháp, Đức Phật có dạy sáu điều hòa hợp, gọi là lục hòa, các Phật tử  phải nhận thức những điều căn bản này để thực tập trong cuộc sống hằng ngày. Một là thân hòa đồng trụ, tức là trong gia đình, hay trong đoàn thể, dù tổ chức lớn hay nhỏ, đều phải hòa hợp với nhau; nếu không hòa hợp sẽ trở thành chống phá nhau, không thể sinh hoạt tốt đẹp, cho đến tự tiêu diệt nhau.

 

Vì vậy, khi cùng sống chung, nguyên tắc hòa hợp luôn được đặt ra trước tiên. Trong gia đình, trong đoàn thể, ý thức hòa hợp rất quan trọng, nhưng muốn hòa hợp, mọi người phải tôn trọng những nguyên tắc kỷ cương có lợi ích chung. Đối với những nguyên tắc cần tuân thủ, chúng ta gọi là giới hòa đồng tu, nghĩa là lấy giới luật làm thước đo, nếu vi phạm, sẽ bị loại ra khỏi tổ chức. Ví dụ trong đạo tràng của khóa tu Một ngày an lạc có nguyên tắc phải đăng ký; vì không đăng ký, ra vô không theo giờ giấc quy định, đạo tràng sẽ mất trang nghiêm thanh tịnh và Ban Tổ chức cũng không thể sắp xếp việc ẩm thực, việc tu học cho quý vị. Biết số lượng Phật tử để lo khẩu phần cơm trưa, vì nếu đặt phần cơm rồi, mà quý vị không đến thì phần dư phải bỏ đi, là lãng phí có tội, mà đặt ít thì sẽ không đủ cơm ăn cho quý vị, điều mà không ai muốn. Có một số người không ý thức, không tôn trọng quy định này, gây trở ngại cho việc phân phát khẩu phần ăn.

Ngoài nguyên tắc đăng ký tham dự tu học, nguyên tắc thứ hai là giới hòa đồng tu, trước nhất, vào tu trong đạo tràng, Phật tử phải mặc áo tràng. Người không đăng ký và không mặc áo tràng được xếp vào thành phần dự thính ở ngoài giới đàn, không phải là hành giả chính thức. Ngoài ra, Phật tử vào tu không được nói chuyện, chỉ lóng nghe; nếu nghe không được thì ngồi nhiếp tâm niệm Phật. Không tôn trọng nguyên tắc chung này là phá pháp, sẽ bị mời ra ngoài. Trong đạo tràng, ngoài việc tụng kinh, niệm Phật và lóng nghe các giảng sư dạy, không được làm gì khác. Nếu có những điều không hiểu, hoặc nghi ngờ, quý vị ghi vào giấy để đến giờ pháp đàm sẽ được giảng sư giải thích chung, còn những câu hỏi cá biệt thì trả lời riêng. Việc tu học của chúng ta nhằm đạt được sự an lạc giải thoát, nên việc làm trở ngại người khác không nghe pháp được là phạm tội, vì đạo tràng đang thanh tịnh, một tiếng nói nhỏ thôi cũng phá mất sự thanh tịnh của đại chúng. Từ sự yên lặng, tập trung lắng lòng nghe giáo pháp, chúng ta chẳng những nghe được âm thanh bên ngoài mà còn nghe được tiếng nói từ trong tâm của giảng sư, cho đến nghe được pháp âm vi diệu của Phật; đó chính là ngôn ngữ của Thiền dành riêng cho người có tâm hoàn toàn thanh tịnh. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 21, 2009 at 4:50 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

Kiến trúc ngôi nhà đón cát khí từ thiên nhiên

Quảng Tuệ

Phong thủy học cho rằng, mọi vật trên trái đất đều tàng chứa khí. Cảnh núi sông tươi đẹp phản ánh sinh khí tràn đầy. Nơi gò tàn vách đổ thì tử khí ứ lại. ở khu vực có núi sâu đầy cảnh sắc, khí lưu thông suốt; còn khu vực núi gò hoang phế, dòng lưu động của khí bị cản trở thì khí đọng không lưu thông sẽ tác động không tốt cho nơi ở.

Từ đây phong thủy học chỉ ra rằng, khi tạo dựng ngôi nhà cần thu được cát khí( khí tốt) từ cảnh trí thiên nhiên sao cho khí từ vũ trụ chiếu xuống được lưu thông đồng nhập với ngôi nhà. Ngôi nhà nằm trong cảnh trí thiên nhiên đẹp, sẽ có nhiều sinh khí, người ở an bình làm ăn hưng vượng; nếu là nơi kinh doanh khách hàng sẽ ra vào tấp nập, lãi lớn…Song để có cái lợi đó, thì phải có kiến trúc ngôi nhà hài hoà với cảnh trí thiên nhiên, tiếp nhận đươc sinh khí của vũ trụ.

Kiến trúc phong thủy ngôi nhà không thuận với khí thiên nhiên khu vực, sẽ làm nhiễu loạn và ngăn trở lưu thông khí tự nhiên của vũ trụ, biến khí vũ trụ thành sát khí. Ngôi nhà bị sát khí bao vây rất bất lợi cho sự sống người ở hoặc cho việc làm ăn, kinh doanh…

http://files.myopera.com/hagiang215/albums/387665/IMGVPS71M3868.jpg

Quan sát ngoại hình hay ngoại cảnh một ngôi nhà có hài hoà với cảnh trí hay khí thiên nhiên hay không, phong thủy học đưa ra phương pháp đơn giản là quan sát nó vào lúc sáng sớm hay khi chiều tà, ráng chiều; nhìn ngoại cảnh hình khối ngôi nhà có ánh lên không trung sắc mầu gây được cảm súc lòng người hay có chất thơ hoặc như một bức họa tuyệt tác, độc đáo hay không. Nếu như vậy thì ngôi nhà đã đạt tới sự hài hoà đẹp nhất với sinh khí và cảnh trí thiên nhiên, nó sẽ mang lại mọi điều tốt lành cho người ở. ở một quy mô lớn, tạo hình kiến trúc một toà nhà hài hoà với cảnh trí thiên nhiên tiếp thụ được sức mạnh của khí và làm cho khí lưu thông nhịp nhàng, cũng tạo ra quyền uy và sức mạnh lan toả rộng khắp.

Đó là trường hợp của điện Cremlin ở thủ đô Matxcơva ( Liên Xô cũ ), được xây dựng từ năm 1147. Thành tường điện xây dựng theo hình răng cưa, bốn bên cung điện đều có vọng lâu to nhỏ, hình dáng khác nhau, đều sơn mầu đỏ tía, màu của sao tử vi. Bên ngoài cửa phía Đông thành là Hồng Trường, chỗ đi vào Hồng Trường ở phía Bắc có nhà Bảo tàng Cách mạng cũng sơn mầu đỏ tía. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 21, 2009 at 1:03 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , , , ,

Hoá giải hận thù

 

Hận thù là một trong  những nghiệp ác mà  mỗi người đã tự tạo ra.  Tại sao có sự hận thù giưa người này với người khác, giữa bộ tộc này với bộ tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa tôn giáo này với tôn giáo khác. Hận thù phát xuất từ đâu.

Quan sát gần, sẽ thấy hận thù phát khởi từ tham vọng của con người. Thật vậy, hầu như mọi cuộc xung đột, sát phạt nhau trên cuộc đời này đều bắt nguồn từ lòng tham không đáy của con người ; kết quả là người được thì sanh tâm kiêu ngạo, người thua thì sanh oán thù và từ nỗi oan hận ấy gieo mầm cho tấn bi kịch trả thù tiếp theo, cứ như vậy mà mối hận thù sẽ tiếp diễn không ngừng trong nhân loại.

Dưới tuệ giác của Đức Phật, hoặc các vị thiền sư đắc đạo, từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay, tất cả moi người tạo ra không biết bao nhiêu là tội lỗi, gây ra không biết bao nhiêu là hận thù. Trong kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy rằng từ vô thỉ kiếp, do vô minh chỉ đạo mà con người tạo ra tất cả các tội ác và gây hận thù giữa người này với người khác, giữa mọi người trong cùng một gia đình và giữa nước này với nước khác. Hãy nhớ nghĩ lại xem từ vô thỉ kiếp, chúng ta đã từng làm người, làm thú, làm thần, làm quỷ, v.v… Có thể nói gần như chúng ta đóng đủ tất cả các vai trên sân khấu cuộc đời, hết làm việc thiện lại làm việc ác, hết làm ác rồi lại làm thiện; cứ như thế mà chúng ta thay hình đổi dạng, lang thang trong kiếp luân hồi sinh tử.

Sự sống của loài người, từ khởi thủy là đơn bào tiến lên đa bào, cho đến hình thành thân tứ đại của con người; trải qua quá trình sinh sống dài lâu đó, con người đã tranh giành và sát hại lẫn nhau. Có thể hiểu nghĩa “Vô thỉ kiếp” theo Phật là như vậy. Ngay từ thời bắt đầu có sự sống lúc mới hình thành vũ trụ, đã có sự cạnh tranh để sinh tồn giữa các loài; nói cách khác, loài này sống bằng cách sát hại loài khác, loài nọ phải chết đi cho sự tồn tại của loài khác nữa, v.v… Ý này được kinh Pháp Hoa diễn tả rằng các loài ăn nuốt lẫn nhau để mà sống.
Chúng ta có thể tạm chia sự sống của muôn loài thành hai nhóm là loài ăn cỏ và loài ăn thịt. Thử nghĩ xem đối với các loài ăn cỏ và đối với cỏ cây trong thiên nhiên, chúng ta có đối xử hoàn toàn tốt với chúng hay không, chúng ta không gây oán thù với chúng hay không. Cỏ cây dĩ nhiên có sự sống và ở một chừng mức nào đó, tình trạng sống của cỏ cây cũng chính là tình trạng sống của con người. Loài người vì vô minh ngăn che, nghĩ rằng cần phải cạnh tranh, phải tiêu diệt các loài khác để sống và cũng chính từ đó, con người tiêu diệt luôn cả môi trường sống của chính họ. Ngày nay, khoa học đã chứng minh cho thấy loài người phá hủy môi trường sống nhiều nhất so với các loài khác. Loài người được đánh giá là tối linh, nhưng cũng là loài cực ác so với các ác thú như hùm beo, chó sói; vì xét kỹ, chúng chỉ ăn thịt các con thú khác khi đói, còn loài người giết nhau, hay giết các loài khác không phải chỉ vì đói. Con người săn giết các loài thú để lấy da xương của chúng làm đồ dùng cho giới tự nhận là quý phái, hoặc làm đồ trang sức, thậm chí săn bắn, câu lưới để giải trí, thỏa mãn ác tính của họ. Và loài người giết nhau phần lớn vì hận thù. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 20, 2009 at 9:40 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

DÃ ĐÀM TẢ AO (ii)

CHƯƠNG THỨ HAI

TỪ LONG KHỞI TỐ ĐẾN HUYỆT TRƯỜNG

Mỗi kiểu đất kết thường nằm trong một cuộc đất. Mà tầm long là tìm cho hết một cuộc đất chứ không phải chỉ tìm ra một huyệt trường.

Nhiều người học địa lý không thể tìm ra được một cuộc đất để ấn định huyệt trường. Họ chỉ căn cứ vào câu này của cụ Tả Ao để tìm một huyệt trường (chỉ là một phần nhỏ của một cuộc đất):

Bên trên trồng đỗ,

Dưới lỗ cấy chiêm

Hai bên lưỡi liềm quơ lại.

Căn cứ vào bí quyết đơn sơ đó, họ tìm nơi ria ruộng, bờ sông, hễ thấy chỗ nào mạch đất, chạy đến ao hồ hay ruộng chiêm, mà có 2 chi dài, một chi ngắn, thì đoán: chi ngắn là huyệt trường và 3 chi dài nếu ôm vào huyệt trường, thì họ liền cho đó là tay long và tay hổ. Thật ra phép tìm đất kết như thế không phải là sai, nhưng chỉ tìm tắt như thế vẫn có thể nhầm. Số là có nhiều khu đất có hình thể như vậy mà không có huyệt, bởi huyệt là chỗ tận cùng của long mạch, còn chỗ kia có thể chỉ là một cái vẩy, cái bướu của thân long chứ không phải là nơi tận cùng kết huyệt. Nó chỉ giống những huyệt kết, nhưng không phải là huyệt kết.

Các cụ gọi chỗ trông giống huyệt mà không phải là đất kết này là giả huyệt. Táng vào đây không bao giờ được kết phát. Tuy nhiên cũng có vài người tìm phép 2 chi dài 1 chi ngắn như trên lại trúng huyệt thật, nhưng mà là họa hoằn, rất hiếm.

Muốn chắc ăn ta có thể tìm thấy một chỗ nào như trên, rồi coi nó như là giả thiêế một huyệt kết, từ đó ta sẽ tìm tiếp theo lên nữa cho tới phát tổ sơn của nó tức là nơi phần long (chân mạch) xuống đất kết. Phát tổ sơn hay nơi phân mạch cũng ví như chỗ phân chi của một cành cây, mà chỗ đất kết là nơi đâm bông, kết quả (trái). Được như vậy rồi lại phải có cái nhìn tổng quát của cả một khu vực có cuộc đất từ gốc đến ngọn ta mới có được nhận định rõ rệt về toàn thể khu vực có đất kết. Nếu là huyệt thật, thì may mắn biết bao, trường hợp là giả huyệt thật, nơi có đất kết. Hơn nữa nếu học tầm long theo phép tổng quát này, khi tìm được huyệt thật rồi, nhờ có cái nhìn bao quát, ta mới hiểu được là cuộc đất lớn hay nhỏ, tốt hay xấu, một cách chính xác. Cũng có khi nhờ nó, mà sau khi đi lại xem xét kỹ lưỡng, ta lại còn khám phá ra một hay huyệt kết nữa. Có khi một hai kiểu đất kết tìm ra sau là huyệt kết bàng mà huyệt tìm ra trước mới là huyệt chính. Trái lại cũng có khi huyệt trước chỉ là huyệt bàng mà một, trong những huyệt tìm ra sau mới là huyệt chính. Phải nhìn toàn thể cả mấy huyệt ta sẽ thấy rõ rệt là huyệt chính phần nhiều ngay ngắn và huyệt bàng ở tay long thường quay sang phải, cũng như huyệt bàng ở tay hổ thường quay sang trái – Lý do là hai huyệt này ở hai bên triều vào huyệt chính.

Rất có thể có trường hợp huyệt bàng lại tốt và đẹp hơn huyệt chính như kiểu đất nhà Lưu Bang, có những nô bộc (Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà v.v…) giỏi hơn Lưu Bang (nhưng triều phục Lưu Bang).

Huyệt bàng không những có thể ở tay long, tay hổ mà còn có trường hợp nó ở ngoại long, ngoại hổ hay ở một mảnh sa nào triều về huyệt chính nữa. Nếu tìm được cả chùm như vậy, ta sẽ thấy rất thích thú, như có cả một chùm hoa, để ta muốn chọn hoa nào (hay chọn huyệt nào) mà ta thích.

Có người mong kiếm huyệt giàu, có người mong kiếm huyệt sang, trái lại có người chỉ mong kiếm huyệt sinh con trung hiếu hiền lương, suốt đời vô tai nạn.

Như vậy ta phải xem từ đất kết lên tới tổ sơn để biết đất kết này phát nguyên từ đâu, và đâu là khởi mạch cho khu vực này.

(13) Nẻo xa liền hỏi tổ tông

(14) Ở đâu hòa đến mạch long địa hình

Dưới đây cụ Tả Ao chỉ cho ta hình tích long mạch từ tổ sơn:

(15) Nước phân chữ bát phân minh

(16) Hai bên chảy thuận, loan hình tố long

(17) Cửa trời trên đã mở thông

(18) Thượng phân là đấy chính long thực vào.

Từ tổ sơn, nơi phát khởi ra mạch đất có đất kết, cho đến khu vực có đất kết, gọi là một cuộc long.

Một cuộc long có ba phần:

1. Một là tổ sơn (nơi phát xuất ra cuộc đất)

2. Hai là hình long (tức phần nối tổ sơn với huyệt trường).

3. Ba là huyệt trường (nơi có huyệt kết).

Ta thấy nước hai bên khe, cạnh thân long ở tổ sơn thủy xuống trên thì gần và dưới thì xa nhau ra, trông như chữ bát, như câu tả dưới đây:

(15) Nước phân chữ bát phân minh

Nước có chảy thuận theo chiều long ở tổ sơn đi – chảy khuất khúc (loan hình) bên cạnh long, khi sắp lại gần, khi lui ra xa như đi theo quanh quẩn bên long (tống long) như câu dưới đây:

(16) Hai bên chảy thuận, loan hình tống long

Hai bên thân long (thân long là mạch đất). Nước tại phát tổ sơn, chảy phân chữ bát như thế, còn được coi như là nước mở cửa cho long đi.

(17) Cửa trời trên đã mở thông

Long đi từ tổ sơn như thế là chân long, bắt đầu rời tổ ra đi cho đến đất kết. Nước chữ bát ở trên tổ sơn gọi là thượng phân. Long ở chỗ có nước thượng phân là chính long mà theo nó ta sẽ tìm đến huyệt kết. Long khởi mạch là đường phân thủy mà 2 bên có nước là 2 đường thông thủy (dẫn thủy) đầu tiên của cuộc long.

(18) Thượng phân là đấy Chính Long thực vào

Thế rồi long đi nước cũng đi theo. Long đi có thể chia ra thành nhiều chi khác. Những chi không kết huyệt gọi là long đầu thủ còn chi nào đi đến kết huyệt gọi là đến huyệt trường. Nước theo long đi, có khi phải vòng vèo qua những long đầu thủ nên có thể xa dần chính long. Nước đi, có thể lấy thêm nước ở các khe nước khác và cũng có khi nước đó lại chia ra làm nhiều nhánh khác nhỏ, có nhánh theo long, có nhánh chảy đi mất và bao giờ cũng có ít nhất một nhánh nước theo long đi cho đến chỗ long kết huyệt. Tới chỗ nào long kết huyệt thì ít ra cũng phải có 2 hay 3 nhánh nước đến tụ ở trước huyệt trường để làm minh đường.

(19) Đến đâu hai nước tống giao

(20) Ấy đấy cửa đất đóng vào cẩn thay

Nước Tống giao nước tụ, chính là chỗ hạ hợp chỗ đóng nước lại cho long không đi nữa, để kết huyệt.

(21) Hạ hợp là đấy vậy vay

Như vậy khi long mới đi, thì nước thượng phân (mở cửa cho long đi) và khi long đến huyệt kết thì 2 nước đó lại hạ hợp (để đóng cửa lại).

Do đó mà ta gọi là thượng phân và hạ hợp.

Thiên nhiên trông như vô tri mà bao hàm trật tự và thủy chung (có trước có sau) mới hoàn thành được một sự việc. Con người cũng nên suy ngẫm.

Hạ hợp như thế nước phải tụ ở trước huyệt làm minh đường. Nếu không như thế không phải đất kết.

(22) Nơi chính thủy tụ thực hay chẳng nhầm

Có thủy tụ mới có huyệt kết, bằng không, chỉ tà giả huyệt mà thôi.

Một cuộc Long đi có thể lớn đến vài trăm mẫu. Một huyệt trường cũng có thể lớn đến vài mẫu. Ta phải tìm trong khu vực huyệt trường xem, chỗ nào là chỗ huyệt kết.

Tìm được chỗ huyệt kết rồi, ta mới có đối tượng chính xem long, thủy, sa xung quanh huyệt trường, tương quan với đất kết ra sao.

Việc tìm huyệt kết tại huyệt trường cũng khó khăn lắm vì không có huyệt trường nào giống hẳn huyệt trường nào. Không thể có một mẫu mực kiếm huyệt kết nào nhất định. Tuy nhiên theo nhiều kinh nghiệm tìm huyệt kết, ta cũng có thể biết, đại khái công thức như sau:

Hình thể huyệt kết không hoàn toàn giống nhau nhưng nếu biết xếp loại thì nó cũng có cát tương tự. Nhờ có cái tương tự này mà ta có thể chia làm 4 loại chính cho dễ nhận chân. Đó là 4 loại hình huyệt trường dưới đây:

1. Hình Oa (xem hình 1 và hình 2)

2. Hình Kiềm (xem hình 3)

3. Hình Nhũ (xem hình 4)

4. Hình Đột (xem hình 5).

Ta phân tích Oa, Kiềm, Nhũ, Đột như sau:

1. Oa và Kiềm phần nhiều ở chỗ có mạch sơn cước (có núi đồi).

2. Nhũ và đột phần nhiều ở nơi mạch bình dương (chiều cao thấp của ruộng, ít chênh lệch nhau rõ rệt).

3. Theo kinh nghiệm, ta thấy Oa thì tròn, Kiềm thì dài, dù Oa và Kiềm cùng do núi mà ra.

4. Cũng theo kinh nghiệm ta thấy Đột thì tròn và Nhũ thì dài, dù Nhũ và Đột cùng do đất bình dương mà có.

Trên đây là 4 dạng hình thể huyệt kết tại huyệt trường gồm: Kết Oa, Kết Kiềm, Kết Nhũ, Kết Đột.

Oa, Kiềm, Nhũ, Đột là 4 hình thể chính. Nhận ra được 4 hình thể chính này rồi, ta còn phải kinh nghiệm nhiều nữa, mới điểm huyệt trúng được. Riêng Oa có một biến dạng đặc biệt là Oa đứng (hình 2).

Nhưng nói chung mỗi Oa, Kiềm, Nhũ, Đột cũng đều có biến dạng chút ít, ta phải biết phân biệt để xếp nó vào loại nào trong 4 loại nêu trên, thì ta mới thực hành được phép điểm huyệt chính xác được.



Những huyệt trường có khi rộng đến cả một, hai mẫu mà huyệt kết chỉ ngang dọc ba bước là quán khí, vậy ta cũng phải có công thức tìm ra chỗ nào kết huyệt trong huyệt trường này nữa. Đó là phép điểm huyệt.

Điểm huyệt tuy khó nhưng không ngoài ba phép:

1. Quân bình âm dương

2. Tìm hình thể quản cục:

3. Tìm chỗ âm dương giao độ:

Khai triển ra ta có:

1. Nếu huyệt trường vuông, tròn thì huyệt kết hay ở chỗ méo mà hay ở giữa.

2. Nếu huyệt trường dài, ta tìm cái đốt, cái tiết.

3. Nếu huyệt trường cao, ta tìm chỗ thấp bằng (âm lai, dương thụ).

4. Nếu huyệt trường thấp, bằng, ta tìm chỗ cao (dương lai, âm thụ).

5. Nếu bên phải cao, ta tìm bên trái (vì khí mạch từ phải đổ sang trái)

6. Nếu bên trái cao ta tìm bên phải (vì khí mạch từ trái đổ sang phải)

Tóm lại một câu: ta phải lưu ý tìm chỗ đặc biệt tại khu vực đó, là chỗ: không trong, không ngoài, không trên, không dưới nhưng chính là chỗ âm dương giao độ. Để chắc chắn hơn nữa, ta còn phải nhìn long hổ, án sa nếu những chứng ứng này mà cao, ta tìm huyệt kết trên cao. Còn long hổ, án, sa mà thấp ta tìm huyệt kết, nơi thấp để cho cân xứng với hình thể: cao, thấp của đất kết.

Chiều cao lý tưởng, của huyệt kết, phải từ rốn đến ngang mày người ngồi ở huyệt kết.

Như trên đã trình bày ta thấy.

Nhà địa lý không những chỉ muốn kiếm đất kết, mà còn muốn coi cả một cuộc long, từ khi phát tích ở tổ sơn, cho đến huyệt kết nữa.

Tầm long là phép theo toàn cuộc đất từ đất kết ngược lên tổ sơn hoặc đi từ tổ sơn xuống đất kết. Trong lúc đi quan sát cả cuộc đất như thế, nhà địa lý còn có cái thú xem phong cảnh thiên nhiên. Mà thiên nhiên dù rộng lớn đến mấy đi nữa trước mặt nhà địa lý, cũng được thu nhỏ lại thành một toàn thể, biểu hiện chung một thái độ, một trạng thái chỉ thị cho tính chất, của một cuộc đất, nó là ý hướng căn bản của sự quyết định tính chất kết phát của cuộc đất đó.

Thiên nhiên, lúc đó, lại còn biểu hiện một cách triết lý cao siêu của dịch lý, bằng cách thu tất cả khung cảnh vào 2 mối: âm và dương. Thật vậy, đất muốn muôn hình, nghìn trạng, cũng đều chỉ có: cao và thấp, tức là chỉ có âm và dương mà thôi. Vì cao là âm và thấp là dương. Chiều hướng của mạch núi hay mạch đất bằng cũng có chiều âm, chiều dương. Nếu đi quay sang phải là dương và quay sang trái là âm. Thế rồi, nơi huyệt kết, ở huyệt trường cũng cần sự phối hợp âm dương như sau: nếu âm đến thì dương kết mà dương đến thì âm kết. Nếu muốn thu cả âm dương vào một mối thì âm, dương cũng chỉ là một, vì bên âm có dương, bên dương có âm; chúng liên tiếp bên nhau, đắp đổi cho nhau, nương tựa lẫn nhau, tạo nên một lẽ sinh thành, một toàn thể sinh hóa có trùng trùng duyên khởi:

Đồng đồng nhất đại khối

Diều diều như nghị quần.

Như nhìn vào tổ ong, ta chỉ có cái nhìn tổng quát những con ong, mà không còn muốn phân biệt ong đực, ong cái, ong to, ong nhỏ nữa. Âm dương đến độ bất phân như vậy thì tâm hồn nhà địa lý đã trở vào Thiền lúc nào không hay, rồi người và cảnh cũng nhập vào với vũ trụ nữa. Đó là trạng thái xuất thần trong cảnh thiên nhiên của nhà địa lý, mà lúc đó, nhà địa lý là nhà nghệ sĩ thiên nhiên.

Khi đã nhập thiền với thiên nhiên rồi thì nhà địa lý hết bị hình, danh, sắc, tướng chi phối, họ trực giác ngay được chỗ nào là trọng điểm của cuộc đất, nơi nào là quản cục của cuộc đất để rồi khi ly khai với Thiền họ sẽ phân tích lại trên thực tế những gì họ đạt trong Thiền.

Thế rồi, trước cảnh, nhà địa lý, khi thì nhập vào cảnh, đi vào Thiền, để tổng hợp với thiên nhiên, khi thì trở về thực tại để phân tích đất đai. Trạng thái lại qua như thế. Cứ tiếp diễn liên tiếp rồi nhà địa lý thấy mình lâng lâng, khoan khoái muốn quên luôn cả cái hình, danh, sắc, tướng của mình và vũ trụ để cùng đi đến chỗ hòa. Những lúc trạng thái tâm hồn nhà địa lý cao vút như vậy thì họ không ngừng sáng tác bằng trực giác, bổ túc bằng thực tại, tổng hợp thực tại, để đi vào trực giác sáng tác kế tiếp. Họ nhìn vũ trụ ngoại cảnh như một toàn thể sinh động. Đất đai, sông núi như một sinh vật kỳ lạ hoạt động, mỗi khúc núi đồi cao thấp, như là một khúc con rồng (loài vật biến hóa khôn lường) đang bò, đầu ngoảnh bên phải, bên trái, thân uốn éo, chập chờn di động. Khi nghiêng xuống suối uống nước, khi vểnh tai nghe gió thổi rì rào, khi nheo mắt nhìn đám mây “vân cẩu” trôi, khi ghé mình bên rừng tránh nắng, khi tắm dưới mưa xuân phơi phới, khi phô lưng dưới ánh chiều dương, lại có khi thả sương chiều, khi phun khói sớm v.v… Thế rồi nhiều lúc nhà địa lý, nhà nghệ sĩ thiên nhiên, không biết mình là cảnh hay là người, cũng như Trang Tử nằm mơ thấy mình hóa bướm, khi tỉnh dậy không biết mình thật là bướm hay là người.

Mãn cảnh giai không hà hữu tướng.

Thử tâm thường định, bất ly thiền.

Ta hãy xem thi nhân địa lý làm thơ tả cảnh, khi tầm long:

Tầm long, nhận thủy làm đầu.

Hợp dòng chỗ ấy, ở đâu mà về.

Lưu Đông thì long ở tê (Tây)

Lưu Nam ở bắc mà về phải không?

Ngược lên cho đến đầu dòng

Đâu nhiều tinh tú, tổ tông đấy rồi.

Quần long, tụ một phương trời

Ngũ tinh tụ giáng, tụ rồi lại chia

Long, long từ đấy ra đi

Mỗi long một ngã, dựng kỳ hành tinh.

Phân phong, thụ mệnh thiên đình

Dành dành mao thổ, cho mình khổn chuyên.

Từ lâu rồi mới hạ đền.

Theo mạch mà xuống, bốc lên tinh vì

Cửu tinh, hình tượng phải suy

Núi ấy là gì, thì nó hành long

Hai bên, hộ vệ trùng trùng

Thủy phân bát tự, hai dòng cũng theo

Giám tinh, hoặc ít hoặc nhiều

Bản long, thỉnh thoảng bốc theo một vì

Cũng thường, ở đấy chia chi

Một thì hộ chủ, hai thì phân tông

Phân thủy, cũng rẽ hai dòng

Rồi ra nước ấy, tụ trong minh đường

Long hành hoặc gặp khê giang

Ấy là quá giáp, hoặc sang hoặc rằng

Long mạch ở kín khăng khăng

Giáp sơn ủng hộ, các tầng bát phong

Chốn ấy gọi là băng hồng

Sơn bằng, thủy cộng ở trong có tình.

Đình thì phải nổi chủ tinh.

Khai diện, bố cục các hình làm sao

Cách sông, long hổ hướng vào

Mà nước bên ấy, cũng nào vào lòng,

Thế là kết ở bên long,

Gọi là tụ khí, trong vòng giáp sơn,

Hoặc long quá giáp, đi sang,

Khai cục, bố thế ở làng bên kia

Quần sơn, chúng thủy, quanh về,

Thường thường, chiều án ở về hậu long.

Ấy là phấn thế, khí hùng.

Giáp tiền, giáp hậu, tầm long nên càng.

Địa lý Đại Thành

Người ta thường nói nhà địa lý không những phải học kỹ thuật địa lý cho tinh tường mà còn phải có:

- Thần tâm

- Thánh nhỡn

- Tiều phu cước

Thần tâm là cái tâm thiên nhiên. Cái vũ trụ chi tâm.

Thánh nhỡn là mục lực, trực giác sáng tác, khi tâm nhập thiên nhiên.

Và tiều phu cước là công phu thực hành nhiều trên đất về khoa Địa lý.

CHƯƠNG THỨ BA

24 LONG NHẬP THỦ

23. Đáo đầu, nhất tiết, hạ châm

24. Thấu long, cho biết lai lâm chữ gì.

25. Biết phương: Nam , Bắc, Đông, Tây

26. Hai mươi bốn vị: Can Chi chữ nào.

CHƯƠNG THỨ BA

24 LONG NHẬP THỦ

Ở trên, đã cho ta biết cách tìm chỗ nào kết huyệt, ở huyệt trường rồi. Nhưng tìm được chỗ kết huyệt vẫn còn chưa đủ. Phải biết tìm hướng của huyệt, và tọa sơn nữa.

Hướng của huyệt, phải tương quan với sa và thủy ở trước mặt hay gần bên (ta sẽ học sa pháp và thủy pháp sau).

Lại còn phải biết tương quan đến 24 long nhập thủ, hoặc long khởi tổ nữa.

Như vậy ta phải lần lượt khai triển từng đoạn thơ trên của cụ Tả Ao. Trước tiên, cụ dạy ta tìm long nhập thủ của nó.

(23) Đáo đầu, nhất tiết, hạ châm

Có nghĩa là: sau khi đoán phỏng chỗ nào là huyệt kết rồi ta ra ngồi lên đúng chỗ đó, đặt địa bàn lên trung tâm huyệt kết, rồi quay đầu lại đằng sau, nhìn xem đốt long nào gần nhất, đoán là khí mạch ở đốt đó rót vào huyệt, nó chính là long nhập thủ – Long nhập thủ có 24 long ghi trên vòng địa bàn.

(24) Thấu long cho biết lai lâm chữ gì?

Rồi ta tìm thấu long của long nhập thủ đó theo 60 long thấu địa ghi ở vòng nhân bàn để biết nó hành gì theo phép nạp âm như sau:

Ví dụ:   Giáp Tý, Ất Sửu là Kim.

Giáp Dần, Ất Mão là Thủy.

Bính Ngọ, Đinh Mùi là Thủy.

Mậu Thân, Kỷ Dậu là Thổ.

Nhâm Tý, Quý Sửu là Mộc v.v…

Sau tiếp, cụ Tả Ao nói qua về long khởi tổ là chỏm núi cao hay ụ mà từ đó chia ra đổ xuống thành cuộc long mà ta đang xem.

Long khởi tổ ở gần thì dễ xem, nhưng ở quá xa thì khó thấy rõ. Nếu ở quá xa ta chỉ cần biết nó ở Nam , Bắc, Đông hay Tây của huyệt trường cũng đủ.

Cũng nên nhắc thêm:

1. Long khởi tổ là đỉnh núi hay ụ đất, rót khí mạch vào cả cuộc đất.

2. Còn long nhập thủ là đốt long hay ụ đất, rót khí mạch vào huyệt trường.

(25) Biết phương Nam , Bắc, Đông, Tây

Biết long khởi tố ở Nam , Bắc, Đông hay Tây rồi ta cũng có thể tạm đoán được đường lối kết phát của long này.

Nếu là:   Đông (mộc) chủ Nhân

Tây (kim) chủ Nghĩa

Nam (hỏa) chủ Lễ

Bắc (thủy) chủ Trí

Biết 4 hướng chỉ là đại khái, nhưng nếu biết chi tiết hơn nó thuộc về long nào trong 24 long thì quý hơn. Lúc đó sẽ biết rõ long khởi tổ quý hay thiện. Cao hơn nữa, biết đến thấu long thì còn tỉ mỉ và chi tiết hơn.

Dưới đây ta hãy nói đến 24 long Khởi tổ hay long Nhập thủ:

(26) Hai mươi bốn vị can chi chữ nào?

Nếu biết rõ 24 long ta sẽ biết nó là: quý long, tiện long, cát long, hung long, âm long hay dương long.

Ví dụ: Hợi, Chấn, Canh là 3 âm long và là cát hung, ba long này gọi là tam, cát, long.

Hoặc nếu là: Kiền, Giáp, Khôn, Ất ta biết cũng là âm long.

Tuy nhiên người ta còn phân tích quý, tiện long, chi tiết hơn, như dưới đây:

1. Âm long: Bính long – Đinh long là thượng cách quý hơn hết.

Canh long – Tân long là thứ cách quý

Cấn long – Tốn long là thứ cách quý

Mão long – Dậu long – Hợi long là tái thứ, thứ cách quý.

Tỵ long là trung cách.

Mùi long – Sửu long trong có sát khí (ít dùng).

2. Dương long: Hết thảy dương long đều kém âm long, nhưng không phải vì thế mà ta bỏ dương long.

Nhân long – Tý long – Quý long là hạng trên.

Ngọ long là hạng trung bình

Kiền long – Khôn long – Dần long – Thân long – Ất long – Thìn long – Giáp long – Tuất long đều là hạ cách.

Có long rồi ta mới biết nạp giáp thủy và sa,

Như Kiền long thì Giáp thủy ứng mới quý hoặc Kiền cung (Tuất Kiên Hợi) có sa ứng thì phải có Giáp thủy triều v.v…

(Chúng tôi sẽ lần lượt khai triển và viết thành những luận án liên quan đến: sa, thủy và rất nhiều yếu tố khác như:

Nạp giáp

Mã sơn cục

Tá mã cục

Mã sơn cố định

Tam cát sa

Lục tú sa

Lộc sơn sa

Tá lộc sa

Quý nhân sa (luận 8 hàng can) (luận tứ duy và 12 địa chi).

Công thức thôi quý (mau phát)

Công thức xá văn tinh (suốt đời vô tù tội).

Long thủy, đại quan tiết (thủy hội và thủy đáo đường).

Công thức hoạch tài thủy

Công thức cứu bần tiến thân thủy pháp.

Bát quái phối cửu tinh (xem xa về ngũ hành tốt hay xấu).

Công thức đại huyền – không ngũ – hành (hướng và thủy phóng).

Công thức Cầm tinh về sa

Đào hoa thủy

Cửu tinh tọa hướng (lấy thủy khẩu làm chuẩn xem nước lại và nước đi).

Sa thủy chương trực giải v.v… (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 20, 2009 at 7:50 Sáng  Để lại phản hồi  
Tags: , , , , ,

DÃ ĐÀM – TẢ AO

Omani-Tôi đã có dịp đọc hơn trăm câu Dã đàm Tả Ao song sức hiểu có hạn mò mẫm giữa đêm đen, may thay sau này có được một file PRC của tảc giả Cao Trung diễn giải-mà tôi post dưới đây, thật hết sức dễ hiểu, ngôn ngữ bình dị mà ai cũng dễ nhập tâm, thậm chí trong lúc cao hứng trà dư tửu hậu có thể đem ra luận bàn.

Song cũng đã có ý đưa lên blog nhưng chưa có thời gian chuyển file PRC sang Word, bữa nay ta bà vào trang anh dienbatn thấy anh có đăng nên cọp về đây giới thiệu với những ai thích nghiên cứu tìm hiểu về Phong thủy.

Mong anh dienbatn đánh cho tiểu đệ hai chữ “đại xá” nhé.

TỰA

Của Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ
Giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn
Giáo sư Đại học Nhân văn và
Nghệ thuật Viện Đại Học Minh Đức

Cách đây mấy năm ông Cao Trung đã nhờ tôi đề tựa quyển Địa Lý Tả Ao của ông, nay ông lại có nhã ý nhờ tôi đề tựa tập Dã Đàm Tả Ao này.
Tác giả cho biết đây là tài liệu viết tay của ông Nguyễn Tấn Minh thuộc giòng giỏi cụ Tả Ao, viết năm Canh Thìn (cụ Tả Ao tên là Nguyễn Đức Huyên).
Tôi may mắn có bộ sách “Tả Ao chân truyền địa lý” do Hà Kim, Duyên Tự Sơn Nhân hiệu đính, Bất Chuẩn Phiên khắc và hiệu Nghĩa Lợi hàng Đào phát hành năm Kỷ Mùi (1919) đời vua Khải Định.
Tôi đem hai bản so sánh thì thấy hầu hết giống nhau, ngoại trừ một vài chi tiết nhỏ. Như thế là chúng ta có thể vững bụng về phần tài liệu.
Nhưng dù là đọc bản in tại Hà Nội hay bản viết tay của ông Nguyễn Tấn Minh, tôi cũng thấy hết sức khó hiểu. Trái lại khi tài liệu trên vào đến tay ông Cao Trung thì nó lại trở nên khúc chiết, rạch ròi, vì nó đã được ông Cao Trung đem công phu phân thành tiết mục hẳn hoi, nhất là sự bình giải hết sức sáng suốt cặn kẽ.
Tác giả vẫn dùng lối văn giản dị, lối trình bày rõ ràng, lại còn kèm thêm nhiều đồ bản, để minh chứng, giải thích, khiến người đọc có cảm giác rằng: khoa Địa lý cũng không đến nổi quá khó như mọi người thường nghĩ.
Tuy nhiên, tập trước và tập này mới hoàn tất phần căn bản của khoa địa lý. Nếu muốn đi sâu vào chi tiết, nếu muốn nắm vững được hết những huyền vi, ảo diệu của khoa địa lý, là một khoa rất khó trong các khoa Cổ học thuật Trung Hoa, chắc chắn chúng ta còn phải tốn nhiều công phu, đọc nhiều sách vở. Cái đó là điều dĩ nhiên. Tác giả cũng biết như vậy nên đã hứa hẹn cho xuất bản thêm một số tài liệu về khoa này.
Chúng ta sau khi đã đọc qua hai tập địa lý của tác giả hẳn đã hài long và ước ao tác giả mau xuất bản cho đủ toàn bộ khoa địa lý, để chúng ta có đủ tài liệu tham khảo và có được toàn bộ sách quý.
Vì không sành về Địa lý, nên tôi chỉ chú trọng đến sự chính xác của tài liệu, và chỉ biết đề cao phương pháp khảo cứu và bình giải của tác giả, chứ không muốn đi sâu vào chuyên môn.
Tuy nhiên trước khi cho xuất bản tập sách này, tác giả đã đưa cho nhiều bậc lão thành tinh thông về khoa địa lý xem và đã được các vị hết lời khen tặng, như ta thấy trong “Lời mở đầu” của tác giả.
Có một điều tôi muốn lưu ý quý vị độc giả là ông Cao Trung từ nhiều năm nay, đã khổ công nghiên cứu về nhiều bộ môn Đông Phương học. Còn riêng về phương diện học vấn, ông cũng có một căn bản hết sức vững chải, một số vốn liếng hết sức dồi dào. Văn bằng cử nhân Văn khoa, Văn học Việt Nam của ông chính cũng là một sự bảo đảm cho sự hiểu biết của ông. Sau những lời trình bày và nhận định trên, tôi xin nồng nhiệt giới thệu tập sách địa lý Dã Đàm Tả Ao này cùng quý vị độc giả.

Ước mong, đối với quý vị, tập sách này sẽ được đúng như lời cụ Tả Ao:
Báu này yêu tựa ngọc vàng
Được thì nên trọng nên sang, nên giàu
Lấy tín lấy kính làm đầu
Đạo có sở cầu, chí có ắt nên.
Lọ là cưỡi hạc đeo tiền
Trước tiên học lấy thần tiên trên đời…

Sài gòn, ngày 10 tháng 4 năm 1974

LỜI NÓI ĐẦU

Năm 1969 tập Địa Lý Tả Ao (Địa đạo Diễn Ca) ra đời, trong đó chúng tôi có giới thiệu tập Địa lý thứ hai: Dã Đàm Tả Ao (Tầm Long gia truyền bảo đàm) tức là bộ này.
Từ khi xuất bản cuốn thứ nhất cho đến nay, chúng tôi được biết luôn luôn quý vị độc giả mong mỏi có cuốn kế tiếp.
Cuốn thứ hai, lẽ ra có thể xuất bản vào năm 1970 mà cho đến ngày nay 1974 nó mới ra đời, vì có nhiều yếu tố đặc biệt, mà chúng tôi xin trình bày lên quý vị, dưới đây:
1. Cuốn trước nặng về loan đầu, cuốn sau nặng về lý khí và hai cuốn này trở nên một cặp thư hùng về căn bản địa lý. Muốn được như vậy phải chuẩn bị cho nó thật chu đáo mới khỏi phụ lòng độc giả trông mong, mới xứng với tập trước và mới hoàn thành sứ mạng việc soạn thảo cổ thư.
2. Từ trước tới nay, đã có bao nhiêu man thư về địa lý mà toàn dựa vào lý khí để làm man thư nên cuốn này, nặng phần lý – khí, phải làm cho rõ đâu là chân và đâu là cái ngụy của khoa Địa lý, nên tác giả đã phải ôn lại trên mười bộ sách địa lý vừa cổ thư bí truyền vừa có bán trên thị trường để đối chiếu và loại bỏ đi những phần nào có thể dễ làm cho độc giả dễ nhầm lẫn, khi đọc nó. Ngoài ra, cũng phải phân biệt chỗ nào quan trọng, chỗ nào kém quan trọng để nhấn mạnh những chổ quan trọng, cho độc giả mau có ý thức chính xác về phần lý khí, để đỡ nhầm lẫn, bởi nhầm về lý khí thì rất tai hại.
3. Nói là lý khí, nhưng thực thể của nó vẫn là loan đầu. Nếu quân thực thể mà trình bày nguyên những gì trừu tượng, vẫn còn làm cho độc giả khó nhận chân, nên các phần lý khí trên sách đều được tác giả cố gắng dung hòa với loan đầu cho có cả thể (loan đầu) và dụng (lý khí) mới là toàn bích.
4. Phần lý khí, nói hết ra một cách quá phân tích sẽ làm mất hứng thú sáng tác của độc giả, và cũng sẽ lại tạo nên hậu quả tai hại là dễ nệ vào phân tích mà quên tổng hợp. Khoa địa lý cũng như nhiều khoa khác phải sử dụng cả phân tích lẫn tổng hợp cùng một lúc mới thành công.
Do đó tác giả phải dấu những điều tỉ mỉ dễ nhầm lẫn, nhưng thập phần quan trọng vào những câu, những chữ mà chỉ những ai dùng sự tận kỳ tâm, tận kỳ đạo mới khám phá ra. Nếu chỉ đọc không, chỉ lĩnh hội được phần nào sự diệu ảo của nó và vừa đủ cho kiến thức thông thường về địa lý mà thôi.
5. Sau đây lại là sự dung hòa 2 quan niệm mâu thuẩn liên quan đến sự phổ biến khoa địa lý đã làm cho tác giả thắc mắc suốt thời gian soạn bộ sách này:
a. Một là nếu không lưu lại sự chân truyền địa lý thì ít lâu sau khoa này sẽ mai một, đâu còn của báu của tiền nhân.
b. Hai là các chân sư sợ rằng “kẻ tục” sẽ tạo nên thị trường địa lý, dù chưa tinh thông. Như vậy sẽ gây tai hại cho đời, nếu sự phổ biến nó quá dễ dàng.
Sau khi hoàn tất bộ sách này, may thay tác giả đã cố gắng làm trọn được hai quan niệm mâu thuẫn nhau như trên, và các bậc chân sư, sau khi đọc xong bản thảo, đã thở phào nhẹ nhõm và nói:
“Viết sách Địa lý như thế này thì thật là tuyệt diệu. Một trăm, một ngàn năm sau, 2 bộ sách này vẫn là sách chân địa lý. Đời sau đọc nó không còn chê trách tiền nhân ở điểm nào. Thôi chúng tôi cũng an lòng và tán thành việc xuất bản nó”.
Mong rằng quý vị độc giả thông cảm cho những nổi thắc mắc trình bày ở trên.
Để cho có toàn bộ chân địa lý cho người Việt Nam chúng tôi sẽ khai thác các sách địa lý có giá trị như: (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 19, 2009 at 6:10 Chiều  Để lại phản hồi  
Tags: , , , , , , ,

48 bức ảnh ‘vượt khung hình’ kỳ lạ

Với nghệ thuật sắp đặt và phần mềm chỉnh sửa, con người và vật thể trong các tấm hình như đang vượt ra khỏi giới hạn khung viền. Thể loại ảnh này được gọi là OOB (Out of bounds photo).

Xem tiếp trang 2

Châu An (Nguồn: SmashingApps)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 19, 2009 at 5:33 Chiều  Để lại phản hồi  
Tags: , ,

Phán xét

 

 

 

Khi nhìn các vì tinh tú đang  lấp lánh ở phía chân trời  ta luôn nghĩ đó là vì sao  của giây phút hiện tại. Nhưng ta có thể lầm. Cái lấp lánh mà chúng ta nhìn thấy chỉ là phần ánh sáng của vì sao đang trên đường đi về phía ta, tại vì đoạn đường phải mất hàng triệu năm mới tới, còn vì sao ấy có thể đã lặn khuất từ lâu lắm rồi. Đó là khám phá của khoa học. Nếu không có nền văn minh khoa học thì ta sẽ còn lầm lẫn rất nhiều thứ trên thế gian này khi sử dụng con mắt của mình với tầm nhìn rất giới hạn.Nhưng khoa học cũng vẫn còn lầm lẫn, khoa học vẫn luôn tiếp tục làm mới chính mình để điều chỉnh lại một cách hoàn hảo về những nhận xét trước đây và tìm tòi thêm những phát hiện mới. Cho nên mới có khoa học tiến bộ ngày nay và chắc chắn sẽ có khoa học tiến bộ trong tương lai. Nếu khoa học bám chặt những hiểu biết của mình, không chịu mở lòng ra để tiếp tục khám phá về những đối tượng mà mình đã từng đưa ra nhận xét thì đó là một nền khoa học cũ kỹ, lạc hậu và đầy nguy hiểm.

Trên thực tế khoa học cũng đang cố gắng ngày đêm để không ngừng cung cấp cho con người những hiểu biết về bản chất thật của vạn vật, nhưng số lượng vẫn còn quá ít so với những gì đang hiện hữu trong vũ trụ bao la này. Nghĩa là ta vẫn còn phải chịu vướng kẹt vào vô số cái nhìn sai lầm về thế giới vật chất chung quanh mỗi ngày.

Trái tim con người còn kỳ bí và mênh mông hơn cả vũ trụ, nếu không có một công trình nghiên cứu miệt mài và tinh xảo hơn cả khoa học thì làm sao ta có thể thông đạt?  Những dòng cảm xúc tuôn chảy bất tận, những ngõ ngách tâm ý sâu kín hay những khúc mắc chập chùng trong nhận thức luôn tạo nên những hành động bất ngờ mà ta hoàn toàn không chủ động được. Tại vì ta không hiểu biết bao nhiêu về chúng cả. Mà trái tim của ta thì ta phải tự tìm tòi khám phá chứ đâu thể trông mong vào công trình nghiên cứu nào của ai khác. Một khi ta vẫn chưa hiểu thấu được chính mình thì ta sẽ không bao giờ hiểu thấu được kẻ khác. Ước muốn đó chỉ là ảo tưởng.

Vậy mà ta vẫn thường hay tuyên bố những câu xanh rờn: Ta đã biết hết, đã hiểu hết rồi! Tại vì ta luôn có thói quen nhìn mọi thứ bằng kinh nghiệm có sẵn. Ta lười biếng quan sát bằng tất cả sự khám phá về một vấn đề hay một đôi tượng trong giờ phút hiện tại, bởi ta nghĩ mình đã từng có kiến thức và trải nghiệm về chuyện ấy, nhìn sơ qua là có thể biết ngay. Thái độ chấp chặt định kiến của ta đã khóa kín cánh cửa nhận thức, vì lẽ đó mà không biết bao nhiêu lần trong cuộc đời ta đã có những phán xét sai lầm đáng tiếc. (đọc tiếp…)

Đăng trong: on Tháng Mười Một 19, 2009 at 1:07 Chiều  Để lại phản hồi  
Tags: , , ,
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.