CHƯƠNG THỨ HAI
TỪ LONG KHỞI TỐ ĐẾN HUYỆT TRƯỜNG
Mỗi kiểu đất kết thường nằm trong một cuộc đất. Mà tầm long là tìm cho hết một cuộc đất chứ không phải chỉ tìm ra một huyệt trường.
Nhiều người học địa lý không thể tìm ra được một cuộc đất để ấn định huyệt trường. Họ chỉ căn cứ vào câu này của cụ Tả Ao để tìm một huyệt trường (chỉ là một phần nhỏ của một cuộc đất):
Bên trên trồng đỗ,
Dưới lỗ cấy chiêm
Hai bên lưỡi liềm quơ lại.
Căn cứ vào bí quyết đơn sơ đó, họ tìm nơi ria ruộng, bờ sông, hễ thấy chỗ nào mạch đất, chạy đến ao hồ hay ruộng chiêm, mà có 2 chi dài, một chi ngắn, thì đoán: chi ngắn là huyệt trường và 3 chi dài nếu ôm vào huyệt trường, thì họ liền cho đó là tay long và tay hổ. Thật ra phép tìm đất kết như thế không phải là sai, nhưng chỉ tìm tắt như thế vẫn có thể nhầm. Số là có nhiều khu đất có hình thể như vậy mà không có huyệt, bởi huyệt là chỗ tận cùng của long mạch, còn chỗ kia có thể chỉ là một cái vẩy, cái bướu của thân long chứ không phải là nơi tận cùng kết huyệt. Nó chỉ giống những huyệt kết, nhưng không phải là huyệt kết.
Các cụ gọi chỗ trông giống huyệt mà không phải là đất kết này là giả huyệt. Táng vào đây không bao giờ được kết phát. Tuy nhiên cũng có vài người tìm phép 2 chi dài 1 chi ngắn như trên lại trúng huyệt thật, nhưng mà là họa hoằn, rất hiếm.
Muốn chắc ăn ta có thể tìm thấy một chỗ nào như trên, rồi coi nó như là giả thiêế một huyệt kết, từ đó ta sẽ tìm tiếp theo lên nữa cho tới phát tổ sơn của nó tức là nơi phần long (chân mạch) xuống đất kết. Phát tổ sơn hay nơi phân mạch cũng ví như chỗ phân chi của một cành cây, mà chỗ đất kết là nơi đâm bông, kết quả (trái). Được như vậy rồi lại phải có cái nhìn tổng quát của cả một khu vực có cuộc đất từ gốc đến ngọn ta mới có được nhận định rõ rệt về toàn thể khu vực có đất kết. Nếu là huyệt thật, thì may mắn biết bao, trường hợp là giả huyệt thật, nơi có đất kết. Hơn nữa nếu học tầm long theo phép tổng quát này, khi tìm được huyệt thật rồi, nhờ có cái nhìn bao quát, ta mới hiểu được là cuộc đất lớn hay nhỏ, tốt hay xấu, một cách chính xác. Cũng có khi nhờ nó, mà sau khi đi lại xem xét kỹ lưỡng, ta lại còn khám phá ra một hay huyệt kết nữa. Có khi một hai kiểu đất kết tìm ra sau là huyệt kết bàng mà huyệt tìm ra trước mới là huyệt chính. Trái lại cũng có khi huyệt trước chỉ là huyệt bàng mà một, trong những huyệt tìm ra sau mới là huyệt chính. Phải nhìn toàn thể cả mấy huyệt ta sẽ thấy rõ rệt là huyệt chính phần nhiều ngay ngắn và huyệt bàng ở tay long thường quay sang phải, cũng như huyệt bàng ở tay hổ thường quay sang trái – Lý do là hai huyệt này ở hai bên triều vào huyệt chính.
Rất có thể có trường hợp huyệt bàng lại tốt và đẹp hơn huyệt chính như kiểu đất nhà Lưu Bang, có những nô bộc (Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà v.v…) giỏi hơn Lưu Bang (nhưng triều phục Lưu Bang).
Huyệt bàng không những có thể ở tay long, tay hổ mà còn có trường hợp nó ở ngoại long, ngoại hổ hay ở một mảnh sa nào triều về huyệt chính nữa. Nếu tìm được cả chùm như vậy, ta sẽ thấy rất thích thú, như có cả một chùm hoa, để ta muốn chọn hoa nào (hay chọn huyệt nào) mà ta thích.
Có người mong kiếm huyệt giàu, có người mong kiếm huyệt sang, trái lại có người chỉ mong kiếm huyệt sinh con trung hiếu hiền lương, suốt đời vô tai nạn.
Như vậy ta phải xem từ đất kết lên tới tổ sơn để biết đất kết này phát nguyên từ đâu, và đâu là khởi mạch cho khu vực này.
(13) Nẻo xa liền hỏi tổ tông
(14) Ở đâu hòa đến mạch long địa hình
Dưới đây cụ Tả Ao chỉ cho ta hình tích long mạch từ tổ sơn:
(15) Nước phân chữ bát phân minh
(16) Hai bên chảy thuận, loan hình tố long
(17) Cửa trời trên đã mở thông
(18) Thượng phân là đấy chính long thực vào.
Từ tổ sơn, nơi phát khởi ra mạch đất có đất kết, cho đến khu vực có đất kết, gọi là một cuộc long.
Một cuộc long có ba phần:
1. Một là tổ sơn (nơi phát xuất ra cuộc đất)
2. Hai là hình long (tức phần nối tổ sơn với huyệt trường).
3. Ba là huyệt trường (nơi có huyệt kết).
Ta thấy nước hai bên khe, cạnh thân long ở tổ sơn thủy xuống trên thì gần và dưới thì xa nhau ra, trông như chữ bát, như câu tả dưới đây:
(15) Nước phân chữ bát phân minh
Nước có chảy thuận theo chiều long ở tổ sơn đi – chảy khuất khúc (loan hình) bên cạnh long, khi sắp lại gần, khi lui ra xa như đi theo quanh quẩn bên long (tống long) như câu dưới đây:
(16) Hai bên chảy thuận, loan hình tống long
Hai bên thân long (thân long là mạch đất). Nước tại phát tổ sơn, chảy phân chữ bát như thế, còn được coi như là nước mở cửa cho long đi.
(17) Cửa trời trên đã mở thông
Long đi từ tổ sơn như thế là chân long, bắt đầu rời tổ ra đi cho đến đất kết. Nước chữ bát ở trên tổ sơn gọi là thượng phân. Long ở chỗ có nước thượng phân là chính long mà theo nó ta sẽ tìm đến huyệt kết. Long khởi mạch là đường phân thủy mà 2 bên có nước là 2 đường thông thủy (dẫn thủy) đầu tiên của cuộc long.
(18) Thượng phân là đấy Chính Long thực vào
Thế rồi long đi nước cũng đi theo. Long đi có thể chia ra thành nhiều chi khác. Những chi không kết huyệt gọi là long đầu thủ còn chi nào đi đến kết huyệt gọi là đến huyệt trường. Nước theo long đi, có khi phải vòng vèo qua những long đầu thủ nên có thể xa dần chính long. Nước đi, có thể lấy thêm nước ở các khe nước khác và cũng có khi nước đó lại chia ra làm nhiều nhánh khác nhỏ, có nhánh theo long, có nhánh chảy đi mất và bao giờ cũng có ít nhất một nhánh nước theo long đi cho đến chỗ long kết huyệt. Tới chỗ nào long kết huyệt thì ít ra cũng phải có 2 hay 3 nhánh nước đến tụ ở trước huyệt trường để làm minh đường.
(19) Đến đâu hai nước tống giao
(20) Ấy đấy cửa đất đóng vào cẩn thay
Nước Tống giao nước tụ, chính là chỗ hạ hợp chỗ đóng nước lại cho long không đi nữa, để kết huyệt.
(21) Hạ hợp là đấy vậy vay
Như vậy khi long mới đi, thì nước thượng phân (mở cửa cho long đi) và khi long đến huyệt kết thì 2 nước đó lại hạ hợp (để đóng cửa lại).
Do đó mà ta gọi là thượng phân và hạ hợp.
Thiên nhiên trông như vô tri mà bao hàm trật tự và thủy chung (có trước có sau) mới hoàn thành được một sự việc. Con người cũng nên suy ngẫm.
Hạ hợp như thế nước phải tụ ở trước huyệt làm minh đường. Nếu không như thế không phải đất kết.
(22) Nơi chính thủy tụ thực hay chẳng nhầm
Có thủy tụ mới có huyệt kết, bằng không, chỉ tà giả huyệt mà thôi.
Một cuộc Long đi có thể lớn đến vài trăm mẫu. Một huyệt trường cũng có thể lớn đến vài mẫu. Ta phải tìm trong khu vực huyệt trường xem, chỗ nào là chỗ huyệt kết.
Tìm được chỗ huyệt kết rồi, ta mới có đối tượng chính xem long, thủy, sa xung quanh huyệt trường, tương quan với đất kết ra sao.
Việc tìm huyệt kết tại huyệt trường cũng khó khăn lắm vì không có huyệt trường nào giống hẳn huyệt trường nào. Không thể có một mẫu mực kiếm huyệt kết nào nhất định. Tuy nhiên theo nhiều kinh nghiệm tìm huyệt kết, ta cũng có thể biết, đại khái công thức như sau:
Hình thể huyệt kết không hoàn toàn giống nhau nhưng nếu biết xếp loại thì nó cũng có cát tương tự. Nhờ có cái tương tự này mà ta có thể chia làm 4 loại chính cho dễ nhận chân. Đó là 4 loại hình huyệt trường dưới đây:
1. Hình Oa (xem hình 1 và hình 2)
2. Hình Kiềm (xem hình 3)
3. Hình Nhũ (xem hình 4)
4. Hình Đột (xem hình 5).
Ta phân tích Oa, Kiềm, Nhũ, Đột như sau:
1. Oa và Kiềm phần nhiều ở chỗ có mạch sơn cước (có núi đồi).
2. Nhũ và đột phần nhiều ở nơi mạch bình dương (chiều cao thấp của ruộng, ít chênh lệch nhau rõ rệt).
3. Theo kinh nghiệm, ta thấy Oa thì tròn, Kiềm thì dài, dù Oa và Kiềm cùng do núi mà ra.
4. Cũng theo kinh nghiệm ta thấy Đột thì tròn và Nhũ thì dài, dù Nhũ và Đột cùng do đất bình dương mà có.
Trên đây là 4 dạng hình thể huyệt kết tại huyệt trường gồm: Kết Oa, Kết Kiềm, Kết Nhũ, Kết Đột.
Oa, Kiềm, Nhũ, Đột là 4 hình thể chính. Nhận ra được 4 hình thể chính này rồi, ta còn phải kinh nghiệm nhiều nữa, mới điểm huyệt trúng được. Riêng Oa có một biến dạng đặc biệt là Oa đứng (hình 2).
Nhưng nói chung mỗi Oa, Kiềm, Nhũ, Đột cũng đều có biến dạng chút ít, ta phải biết phân biệt để xếp nó vào loại nào trong 4 loại nêu trên, thì ta mới thực hành được phép điểm huyệt chính xác được.




Những huyệt trường có khi rộng đến cả một, hai mẫu mà huyệt kết chỉ ngang dọc ba bước là quán khí, vậy ta cũng phải có công thức tìm ra chỗ nào kết huyệt trong huyệt trường này nữa. Đó là phép điểm huyệt.
Điểm huyệt tuy khó nhưng không ngoài ba phép:
1. Quân bình âm dương
2. Tìm hình thể quản cục:
3. Tìm chỗ âm dương giao độ:
Khai triển ra ta có:
1. Nếu huyệt trường vuông, tròn thì huyệt kết hay ở chỗ méo mà hay ở giữa.
2. Nếu huyệt trường dài, ta tìm cái đốt, cái tiết.
3. Nếu huyệt trường cao, ta tìm chỗ thấp bằng (âm lai, dương thụ).
4. Nếu huyệt trường thấp, bằng, ta tìm chỗ cao (dương lai, âm thụ).
5. Nếu bên phải cao, ta tìm bên trái (vì khí mạch từ phải đổ sang trái)
6. Nếu bên trái cao ta tìm bên phải (vì khí mạch từ trái đổ sang phải)
Tóm lại một câu: ta phải lưu ý tìm chỗ đặc biệt tại khu vực đó, là chỗ: không trong, không ngoài, không trên, không dưới nhưng chính là chỗ âm dương giao độ. Để chắc chắn hơn nữa, ta còn phải nhìn long hổ, án sa nếu những chứng ứng này mà cao, ta tìm huyệt kết trên cao. Còn long hổ, án, sa mà thấp ta tìm huyệt kết, nơi thấp để cho cân xứng với hình thể: cao, thấp của đất kết.
Chiều cao lý tưởng, của huyệt kết, phải từ rốn đến ngang mày người ngồi ở huyệt kết.
Như trên đã trình bày ta thấy.
Nhà địa lý không những chỉ muốn kiếm đất kết, mà còn muốn coi cả một cuộc long, từ khi phát tích ở tổ sơn, cho đến huyệt kết nữa.
Tầm long là phép theo toàn cuộc đất từ đất kết ngược lên tổ sơn hoặc đi từ tổ sơn xuống đất kết. Trong lúc đi quan sát cả cuộc đất như thế, nhà địa lý còn có cái thú xem phong cảnh thiên nhiên. Mà thiên nhiên dù rộng lớn đến mấy đi nữa trước mặt nhà địa lý, cũng được thu nhỏ lại thành một toàn thể, biểu hiện chung một thái độ, một trạng thái chỉ thị cho tính chất, của một cuộc đất, nó là ý hướng căn bản của sự quyết định tính chất kết phát của cuộc đất đó.
Thiên nhiên, lúc đó, lại còn biểu hiện một cách triết lý cao siêu của dịch lý, bằng cách thu tất cả khung cảnh vào 2 mối: âm và dương. Thật vậy, đất muốn muôn hình, nghìn trạng, cũng đều chỉ có: cao và thấp, tức là chỉ có âm và dương mà thôi. Vì cao là âm và thấp là dương. Chiều hướng của mạch núi hay mạch đất bằng cũng có chiều âm, chiều dương. Nếu đi quay sang phải là dương và quay sang trái là âm. Thế rồi, nơi huyệt kết, ở huyệt trường cũng cần sự phối hợp âm dương như sau: nếu âm đến thì dương kết mà dương đến thì âm kết. Nếu muốn thu cả âm dương vào một mối thì âm, dương cũng chỉ là một, vì bên âm có dương, bên dương có âm; chúng liên tiếp bên nhau, đắp đổi cho nhau, nương tựa lẫn nhau, tạo nên một lẽ sinh thành, một toàn thể sinh hóa có trùng trùng duyên khởi:
Đồng đồng nhất đại khối
Diều diều như nghị quần.
Như nhìn vào tổ ong, ta chỉ có cái nhìn tổng quát những con ong, mà không còn muốn phân biệt ong đực, ong cái, ong to, ong nhỏ nữa. Âm dương đến độ bất phân như vậy thì tâm hồn nhà địa lý đã trở vào Thiền lúc nào không hay, rồi người và cảnh cũng nhập vào với vũ trụ nữa. Đó là trạng thái xuất thần trong cảnh thiên nhiên của nhà địa lý, mà lúc đó, nhà địa lý là nhà nghệ sĩ thiên nhiên.
Khi đã nhập thiền với thiên nhiên rồi thì nhà địa lý hết bị hình, danh, sắc, tướng chi phối, họ trực giác ngay được chỗ nào là trọng điểm của cuộc đất, nơi nào là quản cục của cuộc đất để rồi khi ly khai với Thiền họ sẽ phân tích lại trên thực tế những gì họ đạt trong Thiền.
Thế rồi, trước cảnh, nhà địa lý, khi thì nhập vào cảnh, đi vào Thiền, để tổng hợp với thiên nhiên, khi thì trở về thực tại để phân tích đất đai. Trạng thái lại qua như thế. Cứ tiếp diễn liên tiếp rồi nhà địa lý thấy mình lâng lâng, khoan khoái muốn quên luôn cả cái hình, danh, sắc, tướng của mình và vũ trụ để cùng đi đến chỗ hòa. Những lúc trạng thái tâm hồn nhà địa lý cao vút như vậy thì họ không ngừng sáng tác bằng trực giác, bổ túc bằng thực tại, tổng hợp thực tại, để đi vào trực giác sáng tác kế tiếp. Họ nhìn vũ trụ ngoại cảnh như một toàn thể sinh động. Đất đai, sông núi như một sinh vật kỳ lạ hoạt động, mỗi khúc núi đồi cao thấp, như là một khúc con rồng (loài vật biến hóa khôn lường) đang bò, đầu ngoảnh bên phải, bên trái, thân uốn éo, chập chờn di động. Khi nghiêng xuống suối uống nước, khi vểnh tai nghe gió thổi rì rào, khi nheo mắt nhìn đám mây “vân cẩu” trôi, khi ghé mình bên rừng tránh nắng, khi tắm dưới mưa xuân phơi phới, khi phô lưng dưới ánh chiều dương, lại có khi thả sương chiều, khi phun khói sớm v.v… Thế rồi nhiều lúc nhà địa lý, nhà nghệ sĩ thiên nhiên, không biết mình là cảnh hay là người, cũng như Trang Tử nằm mơ thấy mình hóa bướm, khi tỉnh dậy không biết mình thật là bướm hay là người.
Mãn cảnh giai không hà hữu tướng.
Thử tâm thường định, bất ly thiền.
Ta hãy xem thi nhân địa lý làm thơ tả cảnh, khi tầm long:
Tầm long, nhận thủy làm đầu.
Hợp dòng chỗ ấy, ở đâu mà về.
Lưu Đông thì long ở tê (Tây)
Lưu Nam ở bắc mà về phải không?
Ngược lên cho đến đầu dòng
Đâu nhiều tinh tú, tổ tông đấy rồi.
Quần long, tụ một phương trời
Ngũ tinh tụ giáng, tụ rồi lại chia
Long, long từ đấy ra đi
Mỗi long một ngã, dựng kỳ hành tinh.
Phân phong, thụ mệnh thiên đình
Dành dành mao thổ, cho mình khổn chuyên.
Từ lâu rồi mới hạ đền.
Theo mạch mà xuống, bốc lên tinh vì
Cửu tinh, hình tượng phải suy
Núi ấy là gì, thì nó hành long
Hai bên, hộ vệ trùng trùng
Thủy phân bát tự, hai dòng cũng theo
Giám tinh, hoặc ít hoặc nhiều
Bản long, thỉnh thoảng bốc theo một vì
Cũng thường, ở đấy chia chi
Một thì hộ chủ, hai thì phân tông
Phân thủy, cũng rẽ hai dòng
Rồi ra nước ấy, tụ trong minh đường
Long hành hoặc gặp khê giang
Ấy là quá giáp, hoặc sang hoặc rằng
Long mạch ở kín khăng khăng
Giáp sơn ủng hộ, các tầng bát phong
Chốn ấy gọi là băng hồng
Sơn bằng, thủy cộng ở trong có tình.
Đình thì phải nổi chủ tinh.
Khai diện, bố cục các hình làm sao
Cách sông, long hổ hướng vào
Mà nước bên ấy, cũng nào vào lòng,
Thế là kết ở bên long,
Gọi là tụ khí, trong vòng giáp sơn,
Hoặc long quá giáp, đi sang,
Khai cục, bố thế ở làng bên kia
Quần sơn, chúng thủy, quanh về,
Thường thường, chiều án ở về hậu long.
Ấy là phấn thế, khí hùng.
Giáp tiền, giáp hậu, tầm long nên càng.
Địa lý Đại Thành
Người ta thường nói nhà địa lý không những phải học kỹ thuật địa lý cho tinh tường mà còn phải có:
- Thần tâm
- Thánh nhỡn
- Tiều phu cước
Thần tâm là cái tâm thiên nhiên. Cái vũ trụ chi tâm.
Thánh nhỡn là mục lực, trực giác sáng tác, khi tâm nhập thiên nhiên.
Và tiều phu cước là công phu thực hành nhiều trên đất về khoa Địa lý.
CHƯƠNG THỨ BA
24 LONG NHẬP THỦ
23. Đáo đầu, nhất tiết, hạ châm
24. Thấu long, cho biết lai lâm chữ gì.
25. Biết phương: Nam , Bắc, Đông, Tây
26. Hai mươi bốn vị: Can Chi chữ nào.
CHƯƠNG THỨ BA
24 LONG NHẬP THỦ
Ở trên, đã cho ta biết cách tìm chỗ nào kết huyệt, ở huyệt trường rồi. Nhưng tìm được chỗ kết huyệt vẫn còn chưa đủ. Phải biết tìm hướng của huyệt, và tọa sơn nữa.
Hướng của huyệt, phải tương quan với sa và thủy ở trước mặt hay gần bên (ta sẽ học sa pháp và thủy pháp sau).
Lại còn phải biết tương quan đến 24 long nhập thủ, hoặc long khởi tổ nữa.
Như vậy ta phải lần lượt khai triển từng đoạn thơ trên của cụ Tả Ao. Trước tiên, cụ dạy ta tìm long nhập thủ của nó.
(23) Đáo đầu, nhất tiết, hạ châm
Có nghĩa là: sau khi đoán phỏng chỗ nào là huyệt kết rồi ta ra ngồi lên đúng chỗ đó, đặt địa bàn lên trung tâm huyệt kết, rồi quay đầu lại đằng sau, nhìn xem đốt long nào gần nhất, đoán là khí mạch ở đốt đó rót vào huyệt, nó chính là long nhập thủ – Long nhập thủ có 24 long ghi trên vòng địa bàn.
(24) Thấu long cho biết lai lâm chữ gì?
Rồi ta tìm thấu long của long nhập thủ đó theo 60 long thấu địa ghi ở vòng nhân bàn để biết nó hành gì theo phép nạp âm như sau:
Ví dụ: Giáp Tý, Ất Sửu là Kim.
Giáp Dần, Ất Mão là Thủy.
Bính Ngọ, Đinh Mùi là Thủy.
Mậu Thân, Kỷ Dậu là Thổ.
Nhâm Tý, Quý Sửu là Mộc v.v…
Sau tiếp, cụ Tả Ao nói qua về long khởi tổ là chỏm núi cao hay ụ mà từ đó chia ra đổ xuống thành cuộc long mà ta đang xem.
Long khởi tổ ở gần thì dễ xem, nhưng ở quá xa thì khó thấy rõ. Nếu ở quá xa ta chỉ cần biết nó ở Nam , Bắc, Đông hay Tây của huyệt trường cũng đủ.
Cũng nên nhắc thêm:
1. Long khởi tổ là đỉnh núi hay ụ đất, rót khí mạch vào cả cuộc đất.
2. Còn long nhập thủ là đốt long hay ụ đất, rót khí mạch vào huyệt trường.
(25) Biết phương Nam , Bắc, Đông, Tây
Biết long khởi tố ở Nam , Bắc, Đông hay Tây rồi ta cũng có thể tạm đoán được đường lối kết phát của long này.
Nếu là: Đông (mộc) chủ Nhân
Tây (kim) chủ Nghĩa
Nam (hỏa) chủ Lễ
Bắc (thủy) chủ Trí
Biết 4 hướng chỉ là đại khái, nhưng nếu biết chi tiết hơn nó thuộc về long nào trong 24 long thì quý hơn. Lúc đó sẽ biết rõ long khởi tổ quý hay thiện. Cao hơn nữa, biết đến thấu long thì còn tỉ mỉ và chi tiết hơn.
Dưới đây ta hãy nói đến 24 long Khởi tổ hay long Nhập thủ:
(26) Hai mươi bốn vị can chi chữ nào?
Nếu biết rõ 24 long ta sẽ biết nó là: quý long, tiện long, cát long, hung long, âm long hay dương long.
Ví dụ: Hợi, Chấn, Canh là 3 âm long và là cát hung, ba long này gọi là tam, cát, long.
Hoặc nếu là: Kiền, Giáp, Khôn, Ất ta biết cũng là âm long.
Tuy nhiên người ta còn phân tích quý, tiện long, chi tiết hơn, như dưới đây:
1. Âm long: Bính long – Đinh long là thượng cách quý hơn hết.
Canh long – Tân long là thứ cách quý
Cấn long – Tốn long là thứ cách quý
Mão long – Dậu long – Hợi long là tái thứ, thứ cách quý.
Tỵ long là trung cách.
Mùi long – Sửu long trong có sát khí (ít dùng).
2. Dương long: Hết thảy dương long đều kém âm long, nhưng không phải vì thế mà ta bỏ dương long.
Nhân long – Tý long – Quý long là hạng trên.
Ngọ long là hạng trung bình
Kiền long – Khôn long – Dần long – Thân long – Ất long – Thìn long – Giáp long – Tuất long đều là hạ cách.
Có long rồi ta mới biết nạp giáp thủy và sa,
Như Kiền long thì Giáp thủy ứng mới quý hoặc Kiền cung (Tuất Kiên Hợi) có sa ứng thì phải có Giáp thủy triều v.v…
(Chúng tôi sẽ lần lượt khai triển và viết thành những luận án liên quan đến: sa, thủy và rất nhiều yếu tố khác như:
Nạp giáp
Mã sơn cục
Tá mã cục
Mã sơn cố định
Tam cát sa
Lục tú sa
Lộc sơn sa
Tá lộc sa
Quý nhân sa (luận 8 hàng can) (luận tứ duy và 12 địa chi).
Công thức thôi quý (mau phát)
Công thức xá văn tinh (suốt đời vô tù tội).
Long thủy, đại quan tiết (thủy hội và thủy đáo đường).
Công thức hoạch tài thủy
Công thức cứu bần tiến thân thủy pháp.
Bát quái phối cửu tinh (xem xa về ngũ hành tốt hay xấu).
Công thức đại huyền – không ngũ – hành (hướng và thủy phóng).
Công thức Cầm tinh về sa
Đào hoa thủy
Cửu tinh tọa hướng (lấy thủy khẩu làm chuẩn xem nước lại và nước đi).
Sa thủy chương trực giải v.v… (đọc tiếp…)