Thông báo chuyển nhà

Sau một thời gian nơi đất WP được các bạn ưu ái ghé thăm, song khả năng hạn chế về kỹ thuật bên WP nên chúng tôi xin thông báo, Omaniblog xin chuyển về địa chỉ sau:

1. Lãnh vực Khoa học, Xã hội, chính trị, Văn Hóa :

http://dongapress.blogspot.com/

2.Lãnh vực Huyền thuật, tâm linh:

http://omanizen.blogspot.com/

Xin kính cáo cùng các bạn.

Mạc Vương Tôn

Đăng trong:  on Tháng Một 21, 2010 at 11:13 Sáng Để lại phản hồi

BỘ SƯU TẬP CÂU ĐỐI CHỮ HÁN

Xin giới thiệu với các bạn Bộ sưu tập câu đối chữ Hán Việt được sưu tập bởi tác giả Nhược Thủy trên trang hoangthantai.com.

“Để giúp các bạn đôi khi có nhu cầu về câu đối chữ Hán, khỏi mất công nhờ người, tôi xin đưa lên đây khoảng 500 câu đối chữ Hán, phiên âm Hán Việt (dịch thoát ý). Đây là bộ sưu tập nhiều người làm, nhiều thế hệ viết, nhiều nội dung yêu cầu khác nhau, nhưng chưa sắp xếp theo chủ đề được (vì có câu nào nhập câu đó ). Các bạn chịu khó tìm hiểu và tùy nghi sử dụng”-Nhược Thủy

1.

花 朝 日 暖 青 鸞 舞

柳 絮 風 和 紫 燕 飛

Hoa triêu nhật noãn thanh loan vũ.

Liễu nhứ phong hòa tử yến phi.

Sớm hoa ngày ấm loan xanh múa.

Liễu bông gió thuận én biếc bay.

2.-

度 花 朝 適 逢 花 燭

憑 月 老 試 步月 宮

Độ hoa triêu thích phùng hoa chúc.

Bằng nguyệt lão thí bộ nguyệt cung.

Độ hoa sớm đúng giờ hoa đuốc.

Nguyệt lão se sánh bước cung trăng.

3.-

花 月 新 粧 宜 學 柳

雲 窗 好 友 早 裁 蘭

Hoa nguyệt tân trang nghi học liễu.

Vân song hảo hữu tảo tài lan.

Trăng hoa vẻ mới nên tìm liễu.

Cỏ thơm bạn tốt sớm trồng lan.

4.-

蕭 吹 夜 色 三 更 韻

粧 點 春 容 二 月 花

Tiêu suy dạ sắc tam canh vận.

Trang điểm xuân dung nhị nguyệt hoa.

Tiếng tiêu thủ thỉ suối ba canh.

Vẻ xuân tô điểm hoa hai tháng.

5.-

汗 濕 紅 粧 花 帶 露

雲 堆 綠 鬢 柳 拖 煙

Hãn thấp hồng trang hoa đới lộ.

Vân đôi lục mấn liễu đà yên.

Hoa nặng sương đêm áo đẫm nước.

Liễu tuôn khói sớm tóc vờn mây.

6.-

花 朝 春 色 光 花 竹

柳 絮 奇 姿 畫 柳 眉

Hoa triêu xuân sắc quang hoa chúc.

Liễu nhứ kỳ tư hoạ liễu my.

Hoa sớm sắc xuân rạng đuốc hoa.

Liễu trông vẻ lạ tô mày liễu.

7.-

已 見 衣 將 柳 汁 染

行 看 鏡 以 菱 花 懸

Dĩ kiến y tương liễu trấp nhiễm.

Hành khan kính dĩ lăng hoa huyền.

Đã thấy áo hoa cùng liễu ướt.

Còn xem trong kính có lăng treo.

8.-

階 下 花 開 花 映 燭

堂 中 燕 至 燕 投 懷

Giai hạ hoa khai hoa ánh chúc.

Đường trung yến chí yến đầu hoài.

Dưới thềm hoa nở hoa ngời đuốc.

Trong nhà yến đến yến đang mong.

9.-

芙 蓉 新 艷 凌 花 燭

玉 鏡 初 明 照 藍 田

Phù dung tân diễm lăng hoa chúc.

Ngọc kính sơ minh chiếu lam điền.

Phù dung mới nở xem thường đuốc.

Kính ngọc vừa soi tỏ nội lam.

10.-

應 花 朝 如 新 作 合

居 繡 閣 好 友 言 歡

Ứng hoa triêu, như tân tác hợp.

Cư tú các, hảo hữu ngôn hoan.

Với hoa sớm như vừa tác hợp.

Ở  gác đẹp bạn bè đều vui. (đọc tiếp…)

Đăng trong:  on Tháng Một 8, 2010 at 1:48 Chiều Để lại phản hồi
Tags:

Bùi Đức Lại – Hội chứng nhiệm kỳ

Bùi Đức Lại

Không ít người suy nghĩ và hành động rất thực dụng. Nếu có thể tiếp tục làm khóa tới hoặc có thể “lên” thì thu mình cho tròn, tránh mọi va chạm để dễ được bầu, cử lại; nếu là nhiệm kỳ thứ hai hoặc sắp về hưu thì tập trung lo thu vén cá nhân: nhận nhà, xin đất, sắp xếp công việc cho người thân, phe cánh.

Nhiệm kỳ là thời hạn giữ chức vụ. Thời hạn đó thường được định ra trước trong các văn bản chính thức. Chắc người đầu tiên dùng nhóm từ “tư duy nhiệm kỳ” cũng không nghĩ rằng ngày nay nó được dùng phổ biến như vậy, dù nội dung chưa được minh định rõ ràng. Có người gọi “tư duy nhiệm kỳ” là “tranh thủ nhiệm kỳ công tác của mình để xoay xở, trục lợi“. Có lẽ nên gọi những hành vi đó là chụp giật, tranh thủ vơ vét lúc đương chức thì đúng hơn.

Trong thực tế, chế độ nhiệm kỳ ảnh hưởng khá mạnh đến hoạt động của một số tổ chức, cơ quan, cá nhân được bầu hoặc được cử theo nhiệm kỳ. Tạm gọi đó là “hội chứng nhiệm kỳ” để nghiên cứu, khảo sát.

Né tránh, đùn đẩy

Thời hạn một nhiệm kỳ của đa số tổ chức được bầu ra ở nước ta như Quốc hội/ hội đồng nhân dân/ cấp ủy đảng là 5 năm. Thời hạn đó xem như “cứng” vì chỉ 5 năm mới tổ chức bầu cử/ đại hội đảng để bầu ra các cơ quan đó một lần.

Các chức danh do các cơ quan nói trên bầu ra như chủ tịch hội đồng, chủ tịch ủy ban, bí thư cấp ủy… thường cũng hưởng thời hạn nhiệm kỳ theo các cơ quan bầu ra họ, tuy điều này không hoàn toàn đúng. Trên nguyên tắc thì cơ quan bầu ra có thể “cắt” nhiệm kỳ của người đã được bầu bằng cách bầu người khác thay thế khi cần, trong phiên họp của cơ quan đó.

Khi được bầu ra, mỗi cá nhân và tổ chức thường có những ý tưởng, chương trình, kế hoạch, những lời hứa hẹn cải thiện mọi mặt công việc thuộc phạm vi trách nhiệm và cố gắng tìm cách hoàn thành những điều đó trong nhiệm kỳ. Đó là điều cần có và rất nên hoan nghênh, khuyến khích.

Hội chứng nhiệm kỳ là những mặt tiêu cực trong tư duy và hành vi của tổ chức và người đứng đầu, bị tác động bởi tính chất thời hạn của nhiệm kỳ.

Hội chứng nhiệm kỳ thường có một số biểu hiện:

Thay đổi nề nếp công việc đã hình thành đang hoạt động tốt, kèm theo đó là việc sắp xếp nhân sự. Thay đổi thường làm rối việc vì không xuất phát từ yêu cầu khách quan mà do người mới chủ quan, thiếu hiểu biết, phiến diện, có dụng ý riêng. Hội chứng này lặp lại qua các khóa, các đời thủ trưởng khiến nề nếp công việc, các mối quan hệ công tác không định hình, rất khó tiến bộ. (đọc tiếp…)

Đăng trong:  on Tháng Mười Hai 31, 2009 at 7:44 Sáng Để lại phản hồi
Tags:

Bauxite Việt Nam và Talawas đang bị tin tặc tấn công

Hai web sites tiếng Việt có số người truy cập rất lớn là Bauxitevn và Talawas bị tin tặc tấn công.

Giới chuyên gia xác định là hai trang này đã bị tin tặc tấn công quyết liệt.

Bauxitevn có tới hơn 17 triệu lượt người truy cập trong vài tháng qua. Từ giữa tháng 12, trang này đã gặp khó khăn, tạm ngừng cập nhật, sau đó, ban quản trị đã phải đổi cả tên miền, nhưng cho đến hôm nay, 22/12/2009, web site này vẫn chưa thể truy cập được.

Ban biên tập bauxitevn cũng chưa biết đến khi nào thì trang mạng này có thể hoạt động trở lại bình thường.

Còn Blog Talawas thì gặp sự cố cách nay hai ngày và hiện nay tạm thời chưa mở cửa cho công chúng truy cập vào.

Đây là lần đầu tiên, Talawas bị tin tặc tấn công.

Nhà văn Phạm Thị Hoài, trong ban biên tập của Talawas cho biết.

Theo RFI

Đăng trong:  on Tháng Mười Hai 23, 2009 at 8:16 Sáng Để lại phản hồi
Tags: , ,

Vì Nhân Dân quên mình

Trân trọng gửi đến đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng đội cựu kháng chiến và các bạn trẻ

I

Vì Nhân Dân quên mình

Vì Nhân Dân hy sinh

Lời nguyện ấy trọn tâm thành ta hát

Tận tụy một đời mấy cuộc trường chinh

Trải mấy cuộc trường chinh với bao hy sinh không kể xiết để có được một đất nước hòa bình độc lập thống nhất, nhưng trên đất nước độc lập thống nhất này, sau 34 năm hòa bình xây dựng, nhân dân ta đang sống trong tình cảnh thế nào?

Câu trả lời của tôi là:

-Bị cướp đất

-Bị bịt miệng

Tất cả mọi người Việt Nam hôm nay khi nằm xuống thì mảnh đất chôn mình cũng không phải của mình, cả nơi yên nghỉ của cha mẹ tổ tiên mình cũng thế. Lên tiếng khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam thì bị quật cổ xuống đường, bị bắt giam, bị cách chức, bị nghỉ việc, bị rút thẻ hành nghề. Các bức thư của vị đại tướng đại công thần Võ Nguyên Giáp đóng góp ý kiến về việc quốc gia đại sự thì không được đăng, nói gì đến đơn khiếu kiện của muôn vạn người dân oan ức, đến tiếng nói phản biện của tổ chức nghiên cứu tư nhân đầu tiên lập ra bởi các trí thức gạo cội chí cốt của Đảng nhờ chủ trương đổi mới – Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS), trong khi tổng biên tập báo điện tử Đảng CSVN tiếp tay nối lời cho giặc bành trướng thì ngang nhiên tại vị. Thậm chí quyền con người của ngay cả người khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chủ tịch Hồ Chí Minh, cái quyền tự do cuối cùng nhỏ nhoi bình thường đơn sơ nhất là khi qua đời thân xác được đem đốt đi, quyền ấy cũng bị gạt bỏ bằng một ứng xử rất xa lạ với cách mạng, thậm chí có thể ẩn chứa một mánh khóe chính trị thâm hiểm: nhân danh tình cảm nhân dân dùng một phương thức phi tự nhiên để biến người lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ thành một hoàng đế Ai-cập cổ đại nhưng vô cùng khốn khổ vì ngày ngày bị phơi ra trước bao con mắt hoặc sùng kính thương cảm hoặc tò mò vô cảm.

Tôi tự hỏi: một đảng gọi là đảng khoa học và cách mạng, là tinh hoa của lương tâm và trí tuệ, một đảng đặt quyền lợi của Tổ Quốc, của Nhân dân lên trên hết, một đảng vì Nhân dân quên mình, một lực lượng vũ trang vì Nhân dân quên mình, một lực lượng trí thức văn nghệ sĩ vì Nhân dân quên mình, có chấp nhận được tình trạng hết sức ngược đời nêu trên không?

Câu trả lời của tôi là:

-Không, dứt khoát không!

*

Ngay tại hành lang Quốc Hội kỳ họp thứ 6 khóa 12, tháng 11.2009, phó đoàn đại biểu quốc hội TP Cần Thơ Huỳnh Văn Tiếp nói: phải kiểm tra xem với động cơ gì mà 110 người ký đơn xin ở tù thay cho bà Trần Ngọc Sương, giám đốc nông trường Sông Hậu (bị kết án 8 năm tù về tội “lập quỹ trái phép”)?

Tất yếu phải đặt ngay các vấn đề:

- Với động cơ gì mà đại biểu Huỳnh Văn Tiếp, trước sự kiện (chưa từng có trong lịch sử hoạt động tư pháp của chế độ ta) cả trăm người dân đòi ở tù thay cho bị cáo – một anh hùng thời đổi mới vốn là người lãnh đạo họ; ông Tiếp không chịu đến ngay với dân để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng dân mà lại lập tức lớn tiếng đòi kiểm tra động cơ của họ? Vậy ông là đại biểu của ai, nói tiếng nói của ai, trên lập trường lợi ích nào,với động cơ gì?

- Với động cơ gì mà bí thư Nguyễn Tấn Quyên, phó bí thư Nguyễn Thanh Vận TP Cần Thơ chỉ đạo cơ quan điều tra khởi tố tội này tội nọ cho anh hùng Trần Ngọc Sương, bất chấp qui định của Đảng cấm ngặt cấp ủy Đảng can thiệp cụ thể vào công tác điều tra?

- Với động cơ gì mà thành ủy Cần Thơ dự tính qui hoạch lập khu đô thị mới ở một vùng đất, trong đó có đất của nông trường Sông Hậu và nông trường Cờ Đỏ, là vùng tối ưu để làm nông nghiệp, hơn nữa lại là thành quả dày công khai phá bao năm trường của hàng vạn nông dân dưới sự lãnh đạo can đảm và năng động của cha con hai người anh hùng đã được tôn vinh?

- Với động cơ gì mà trong một thời gian rất ngắn hàng loạt các cơ quan, cán bộ cao cấp, đại biểu quốc hội, lão thành cách mạng, luật gia, nhà báo, nhà văn đã bày tỏ phản ứng mạnh mẽ, cùng với phản ứng sôi sục của công luận rộng rãi, trước bản án “vô lý” – như phó chủ tịch liên đoàn luật sư VN nhận xét – đối với anh hùng Trần Ngọc Sương?

- Với động cơ gì mà trước kia bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc, rồi các cán bộ chủ chốt của thành ủy Hải Phòng dám xé rào giáo điều thực hiện khoán chui tạo cơ sở thực tiễn cho sự ra đời của chủ trương khoán 10 giải phóng sức sản xuất cho mấy chục triệu nông dân Việt Nam, đưa đất nước thoát cảnh năm nào cũng phải đi xin viện trợ lương thực bước lên vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo? Với động cơ gì mà bí thư thành ủy TP HCM Võ Văn Kiệt, bất chấp hiểm nguy đến có thể mất chức mất Đảng dám xé rào giáo điều thực hiện hàng loạt biện pháp đổi mới ở địa phương tạo tiền đề thực tiễn cho đường lối đổi mới trên qui mô toàn quốc? Với động cơ gì mà cha con hai người anh hùng Trần Ngọc Hoằng Trần Ngọc Sương hiến dâng cả đời mình gây dựng một vùng đất từ sình phèn hoang vu thành đất sống ổn định trù phú cho hàng vạn nông dân trong khuôn khổ bức bối của một cơ chế đầy rẫy những thắt buộc nguy hiểm đối với tất cả những ai tích cực chủ động năng động làm việc vì dân vì nước?

Vậy đó, động cơ và động cơ.

Động cơ vì Nhân dân quên mình của những Kim Ngọc, những cán bộ chủ chốt của thành ủy Hải Phòng, những Võ Văn Kiệt, Trần Ngọc Hoằng, Trần Ngọc Sương thì hiển lộ ngời ngời với những thành quả mà họ đã tạo nên và được chính thức tôn vinh.

Còn động cơ của các cán bộ chủ chốt trong thành ủy Cần Thơ?

Các cán bộ ấy chỉ hối hả đòi xem xét động cơ của dân chứ không bao giờ dám tự nói ra cái động cơ sâu xa giấu kỹ trong quả tim chẳng ai biết đen đỏ thế nào của họ.Thế thì cơ quan lãnh đạo tối cao phải cùng với công luận tiến hành xem xét cái thứ động cơ thầm kín này.

Tôi có mấy ý kiến xin nêu ra để mong được trao đổi góp phần vào việc xem xét động cơ của họ.

Việc xem xét cần phải đặt trong tình trạng Đảng cầm quyền hiện nay có mấy đặc điểm sau:

- Vai trò của các cấp ủy Đảng từ cơ sở cho tới Bộ chính trị trong thực hiện nhiệm vụ chống đại quốc nạn nội xâm rất yếu kém (đồng thời trong nhiệm vụ chống đại quốc họa bành trướng cũng rất yếu, xin đọc bài “Chống diễn biến hòa bình của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc” của cùng tác giả trên mạng internet tháng 01.2009).

- Công tác cán bộ nhiều năm ròng, và đến nay vẫn thế, nằm trong tay một người hoặc một nhóm người tiến hành trong vòng bí mật sắp đặt ghế theo bè phái rồi sắp đặt những cuộc đại hội hình thức, bầu cử hình thức để hợp thức hóa ghế, nạn “chạy” chức diễn ra ở hầu hết mọi cấp mọi ngành mọi địa phương, công tác chỉnh đốn Đảng trở thành chỉnh đốn ngược, càng chỉnh đốn giặc nội xâm vào cấp ủy ngày càng đông đã chiếm chỗ ít nhất 51% trong các cấp ủy kể cả Bộ chính trị. Chắc chắn không thể không có bọn tay sai bành trướng nằm trong cấp ủy mà công tác bảo vệ chính trị nội bộ vô tình hoặc cố ý chưa phát hiện và xử lý.

- Từ chỗ là một bộ phận thoái hóa biến chất bởi một thứ cá nhân chủ nghĩa cực kỳ ngoan cố, giặc nội xâm kéo bè kết cánh trong Đảng dùng con dấu đỏ làm “vũ khí sắc bén” núp sau thẻ đỏ tranh thủ từng ngày từng tháng từng quý từng năm từng nhiệm kỳ đua nhau ăn cắp ăn cướp tích lũy siêu tốc thành một thế lực kinh tế chính trị thao túng nhiều hoạt động của Nhà nước trong đó có hoạt động tư pháp. Sự thao túng đó diễn ra có hệ thống kéo dài đã thành qui trình tinh vi và xảo quyệt từ khâu hoạch định các chủ trương, các dự luật, các dự án v.v… đến khâu thực hiện, bằng mọi thủ đoạn kể cả lách nghị quyết, lách luật, thậm chí dẫm đạp lên nghị quyết và luật pháp.

Đại quốc nạn tham nhũng – nội xâm không chỉ là vấn đề đạo đức nữa mà đã trở thành đại quốc nạn kinh tế – chính trị, một mối đại họa đe dọa sự sống còn của Đảng, như nhiều lão thành cách mạng đã cảnh báo từ lâu. Nhà cách mạng lão thành Trần Độ lúc sinh thời đã thẳng thắn vạch rõ: Đảng không những mất sức chiến đấu mà mất cả sức sống. Tôi muốn nối thêm một ý này: khi đại đa số đảng viên và lực lượng vũ trang kiên định giữ trọn phẩm chất vì nhân dân quên mình thì ngay trong lòng các cấp ủy đảng lại bạo phát một thứ “sức sống” hoang dã vận hành bởi một thứ động cơ đen tối bên ngoài dán nhãn hiệu “đầy tớ nhân dân” bên trong là năng lượng hỗn mang của lòng tham vô đáy say cuồng và mê muội sôi sục suốt ngày đêm.

Dư luận nêu nghi vấn: có vấn đề động cơ đất đai khiến một số cán bộ chủ chốt của thành ủy Cần Thơ phải liều lĩnh dẫm đạp lên nguyên tắc đảng ra mặt chỉ đạo cụ thể can thiệp vào công tác điều tra (và không loại trừ cả khâu xét xử), để quyết thực hiện bằng được một bản án thật nặng cho bà Trần Ngọc Sương khi người nữ anh hùng này, vì lo cho số phận hàng vạn nông dân, đã không giao lại đất nông trưòng, gây cản trở cho cái dự án đô thị mới mà người ta đang nhăm nhe hoạch định (xin đọc bài của nhà báo Huy Đức dẫn lời được ghi âm của ông Phạm Thanh Vận nói với bà Trần Ngọc Sương ngày 25-10-2007: “Chị nghỉ nhưng làm sao cho hạ cánh an toàn trong danh dự nếu giao lại đất Nông trường”).

Tôi cho rằng, đằng sau động cơ đất đai đã hiển lộ khá rõ, còn là một mưu toan hết sức hiểm độc về chính trị tư tưởng và văn hóa của thế lực nội xâm (có thể bản thân các cán bộ chủ chốt của thành ủy Cần Thơ cũng chưa tự ý thức được điều này); nó ngang nhiên và lì lợm phát ra cho toàn xã hội, nhất là lớp trẻ, một thông điệp đen: đừng dại khờ lựa chọn lẽ sống vì dân vì nước như cha con bà Sương, như đa số đảng viên và cựu chiến binh, hãy cứ sống theo cách vừa hô thật to Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm, chủ nghĩa Mác Lê-nin vô địch muôn năm, kinh tế thị trường (nhất là thị trường ghế) định hướng xã hội chủ nghĩa muôn năm, vừa tranh thủ ra sức kiếm ghế mua ghế bám ghế leo ghế ngày càng cao theo phương thức dùng chuyên chính vô sản tích lũy tư bản để đạt tới “thiên đường cộng sản” của một giai cấp đại tài phiệt đỏ nói như rồng leo làm như mèo mửa và hưởng theo nhu cầu trên cái “gốc” là nhân dân lầm than và phẫn uất nhưng bị bưng bít thông tin nên vẫn cứ thều thào “ơn Đảng”.

Vụ án anh hùng Trần Ngọc Sương diễn ra trong một môi trường pháp lý mà cán cân công lý nằm trong tay những cấp ủy đã bị giặc nội xâm thao túng, từng đẻ ra bao phiên tòa mà chánh án tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Hiện lúc đương nhiệm đã gọi huỵch toẹt “xử thế nào cũng được”.

Để sáng tỏ được công lý trong vụ án này cũng như vô số vụ án khác tương tự, thì trước hết cần phải khẳng định dứt khoát cái công lý thiêng liêng bao trùm ngàn đời sau đây: chủ sở hữu đích thực của đất nông trường Sông Hậu chính là những người nông dân cùng cha con bà Sương đã dốc tâm dồn trí bền lực tiếp nối các lớp tiền bối của mình bao đời bao năm khai phá bồi đắp nên chứ không phải là một thứ “sở hữu toàn dân” mông lung. Một sự thật sờ sờ ai cũng thấy: cái gọi là “sở hữu toàn dân” mông lung đã mau chóng biến thành túi vàng két bạc của vô số những người có chức quyền nhân danh cách mạng để làm vua quan cách mạng, khiến đất nước rối bời lên không thể tả về chuyện đất đai và còn rối bời chưa biết đến bao giờ.

Hãy hình dung, nếu ngay từ đầu ta không thành lập nông trường quốc doanh mà để những người nông dân khai hoang đến đâu được cấp quyền sở hữu đất đến đấy, ai có chứng từ sở hữu trong quá khứ được tiếp tục thừa nhận (quyền sở hữu tư nhân vĩnh viễn chứ không phải quyền sử dụng có thời hạn), rồi họ góp thóc góp tiền trả công xứng đáng cho người đã lãnh đạo tổ chức họ gây dựng cơ nghiệp là ông Trần Ngọc Hoằng (tiếp đến là bà Trần ngọc Sương), rồi khi nhu cầu phát triển sản xuất thúc đẩy họ hợp tác với nhau, tất yếu sự hợp tác sẽ diễn ra một cách tự nguyện và nhất định họ chỉ bầu người mà họ thấy là gương mẫu nhất, đáng tin cậy nhất đứng ra lãnh đạo điều hành cái hợp tác xã đúng nghĩa ấy, rồi cũng tất yếu hợp tác xã sẽ phát triển thành một công ty cổ phần nông công thương tín do nông dân làm chủ từ sản xuất chế biến đến phân phối trong và ngoài nước các sản phẩm do họ làm ra, thì tình hình sẽ thế nào? Chắc chắn mọi người từ nông dân đến cha con bà Trần Ngọc Sương sẽ giầu có hơn rất nhiều, số thuế họ đóng cho nhà nước cũng lớn hơn rất nhiều, sẽ không có chuyện mắc tội “lập quỹ trái phép” hay “tham ô” (tiền của chính mình).

Như vậy, vụ án cần phải xem xét khởi tố trước hết là vụ quốc hữu hóa tư liệu sản xuất.

Tôi tha thiết đề nghị các nhà lãnh đạo, nếu thực lòng đặt Tổ Quốc lên trên hết, quyền dân lên trên hết, thực lòng vì Nhân dân quên mình, hãy lập tức mời ngay các lão thành cách mạng, các ủy viên Bộ chính trị và Trung ương các khóa, các đại biểu quốc hội đương nhiệm và các khóa trước cùng các nhà khoa học thực hiện một cuộc tổng kết thật cụ thể, thật chi tiết xem công cuộc quốc hữu hóa tư liệu sản xuất, cải tạo nông nghiệp và công thương nghiệp tư nhân trước đây đã gây tổn thất về vật chất và tinh thần cho đất nước cho nhân dân như thế nào.

Sau 1975, công cuộc quốc hữu hóa được thực hiện do đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc, xác lập tại đại hội Đảng lần thứ 4, tháng 12.1976. Đảng Lao động Việt Nam đổi thành Đảng Cộng Sản Việt Nam, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đổi thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mất 2 chữ “dân chủ”, đồng thời cũng mất luôn một thể chế dân chủ đa nguyên – thành quả của Cách mạng Tháng 8.1945 – được thiết lập năm 1946 qua cuộc phổ thông đầu phiếu đầu tiên trong lịch sử dân tộc, để thay bằng 4 chữ “xã hội chủ nghĩa” mà phần lớn những đảng viên tham dự đại hội 4 cùng lắm cũng chỉ hiểu đó là lý tưởng xa vời về một xã hội sung túc, tốt đẹp, không có áp bức bất công và nhất thiết sẽ có “dân chủ gấp triệu lần” (lời Lê-nin) các chế độ trước. Những quyết sách lớn quan hệ đến quyền sống của từng người dân, đến vận mệnh của đất nước và của Đảng như vậy lại được chuẩn thuận bởi một đại hội mà đa số đại biểu dự họp với tâm lý và không khí một cuộc liên hoan mừng chiến thắng hơn là một cuộc bàn thảo cặn kẽ để hoạch định đường lối chiến lược, như thủ tướng Võ Văn Kiệt đã bày tỏ tâm sự lúc cuối đời.

10 năm sau, đại hội Đảng lần thứ 6 họp tháng 12.1986 đã chỉ ra sai lầm chiến lược của đại hội 4 và quyết định đường lối đổi mới. Tuy nhiên, do những hạn chế lịch sử của tình hình chính trị nội bộ, nên thay vì phải thẳng thắn nêu rõ “sai lầm về đường lối chiến lược” lại chỉ dừng ở mức “sai lầm về chỉ đạo chiến lược”. Một cán bộ cao cấp, nguyên là bí thư đặc khu ủy Quảng Đà trong chiến tranh được tổng bí thư Trường Chinh giao nhiệm vụ tham gia nhóm nòng cốt chuẩn bị dự thảo văn kiện đại hội 6 kể với tôi, ngay sau đại hội mấy hôm: dự thảo lúc đầu ghi rõ “sai lầm về đường lối chiến lược”, nhưng đã diễn ra một cuộc giằng co giữa khuynh hướng nhận sai lầm triệt để với khuynh hướng chỉ nhận sai lầm nửa vời trong nội bộ còn khá mạnh, rốt cuộc đành phải tạm nhân nhượng thay 2 chữ “đường lối” bằng 2 chữ “chỉ đạo”). Tính nửa vời đó đã để di lụy tai hại ghê gớm cho đến nay. Do chủ nghĩa cá nhân và bệnh bè phái độc đoán phản dân chủ rất nặng ở một số cán bộ chủ chốt cấp tối cao, các đại hội kế tiếp đều né tránh việc xem xét đánh giá tình hình 10 năm từ 1976 đến 1986. Các chủ trương lớn có tính nền móng của Đảng như “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, lấy dân làm gốc, công khai dân biết dân bàn…” dần dần bị vô hiệu hóa bởi một thế lực sợ sự thật, sợ dân có quyền, lấy việc bám ghế đè dân, bưng bít và ngăn chặn cắt xén thông tin để tồn tại.

Bây giờ thì ai cũng thấy đường lối Đại hội 4 là một đường lối phiêu lưu duy ý chí đưa đất nước và Đảng đến bên bờ vực thẳm.Nhưng không phải ai cũng thấy đây là cái duy ý chí, phiêu lưu và kiêu ngạo sau đại thắng của một vài cá nhân theo chủ nghĩa cực quyền áp đặt cho số đông để tình cảm cách mạng thay cho lý luận khoa học, để niềm tin chân thật hồn nhiên vào cấp trên thay cho bản lĩnh tư duy độc lập của người chiến sĩ cách mạng luôn lấy lợi ích của dân của nước làm tiêu chuẩn để suy nghĩ và hành động. Và không phải ai cũng thấy, có một sự thật bấy lâu luôn bị che giấu: ở cấp lãnh đạo tối cao, từ rất sớm trước khi chuẩn bị đại hội 4 đã có những ý kiến phản biện rất sáng suốt.

Ví dụ:

- – Cuộc tấn công Tết Mậu Thân – 1968 khi nổ ra được gọi chính thức là Tổng công kích – Tổng nổi dậy (Tổng khởi nghĩa), ở chiến trường gọi tắt là 2T, nhưng trong quá trình chuẩn bị, khi thảo luận ở cấp tối cao có ý kiến đề nghị chỉ nên xác định là cuộc tập kích chiến lược vì không thể tiến hành tổng khởi nghĩa đưa quần chúng tay không ra trước họng súng trong điều kiện chiến tranh với một đối phương có lực lượng quân sự cực mạnh. Ý kiến này không được lắng nghe và tiếp thu. Thực tế đã chứng minh ý kiến này đúng. Cuộc tổng nổi dậy đã không nổ ra được. Trong năm 1968 ta tiến hành 3 đợt tấn công vào đô thị; đợt Tết, đợt tháng 5 và đợt tháng 8, bị tổn thất rất lớn, khó khăn chồng chất tưởng chừng không thể vượt qua kéo dài suốt các năm 1968, 1969, 1970, nửa đầu 1971, nhiều nơi phải đưa lính chủ lực miền Bắc xuống làm du kích (anh lính Phạm Trung Đỉnh người Hải Phòng thuộc số này, may sống sót trở về, nay là nhà văn Trung Trung Đỉnh, giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà văn).

- Chiến dịch xuân hè 1972, sau khi ta giải phóng thị xã Quảng Trị, ý kiến phản biện từ giới quân sự yêu cầu không nên tổ chức phòng ngự dài ngày giữa địa hình đồng bằng trống trải dưới hỏa lực cực mạnh đủ các cỡ kể cả B52 của đối phương, nhưng ý kiến sáng suốt này đã không được lắng nghe và tiếp thu, hậu quả là mỗi đêm chúng ta hy sinh một đại đội, sau hơn 60 ngày đêm phải rút lui.

- Trước 30.4.1975, trong cán bộ cao cấp của Đảng đã có ý kiến đề xuất cần giữ quan hệ bình thường với chính quyền Mỹ khi ta tiến quân vào giải phóng Sài Gòn, việc thống nhất đất nước cần tiến hành từng bước để miền Nam tiếp tục duy trì các quan hệ chính trị kinh tế xã hội như trước với các nước phương Tây thì sẽ đạt được lợi ích tối ưu cho cách mạng, nhưng ý kiến sáng suốt này đã không được chấp nhận. Sau 1975, ủy viên Bộ Chính trị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã nỗ lực xúc tiến công tác đối ngoại theo hướng tăng cường quan hệ với phương Tây và tìm cách tiến tới sớm đạt được quan hệ bình thường giữa ta và Mỹ, nhưng rồi chính vì lẽ đó mà bộ trưởng bị gạt ra khỏi Bộ Chính trị do sức ép của thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Trung Quốc.

- Tháng 5.1975, tại Đà Nẵng, tôi được học nghị quyết 24 của Bộ Chính trị trong đó có chủ trương giữ nguyên kinh tế thị trường với các thành phần kinh tế tư nhân ở miền Nam – một chủ trương rất sáng suốt. Tất cả các đảng viên đều rất phấn khởi với chủ trương này. Nhân dân nghe tin càng rất phấn khởi và yên tâm. Nhưng nghị quyết chưa kịp triển khai thực hiện, một thời gian ngắn sau đã bị phủ định bởi những nghị quyết mới tiếp tục duy trì đường lối giáo điều đưa miền Nam vào chế độ kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp như miền Bắc.

- Đối với dự thảo đường lối đại hội 4, nhiều ý kiến trong cán bộ lãnh đạo cấp cao đã sớm chỉ ra tính phiêu lưu duy ý chí, hơn nữa lại trái với lời dặn trong di chúc của Hồ chủ tịch: sau chiến tranh phải có giai đoạn phục hồi kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.

Các ý kiến phản biện ở tầm chiến lược vừa nêu đã không được tôn trọng lắng nghe, không được thảo luận dân chủ rộng rãi, ngược lại tác giả của những ý kiến sáng suốt đó lại bị trù dập bị vô hiệu hóa bằng nhiều cách. Vì không có dân chủ ngay cả ở hàng ngũ lãnh đạo tối cao, nên Đảng đã mắc những sai lầm lớn về chiến lược và từ sai lầm dẫn đến những tội lỗi lớn không những với dân với nước mà ngay cả đối với nhau trong lớp chiến sĩ cách mạng khởi nghiệp.

Khi trong nội bộ cấp cao xảy ra tình trạng dùng bạo quyền thay cho lẽ phải như thế là lập tức kẻ thù bên ngoài lợi dụng. Xin nhớ lại: tháng 5 .1984, kỷ niệm 30 năm ngày chiến thắng Điện Biên, báo đài hầu như không nhắc gì đến đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ba tháng sau, tháng 7.1984, giặc bành trướng thực hiện ngay chiến dịch tấn chiếm tuyến điểm cao núi Đất (Hà Giang ), ta tổn thất rất lớn, một số điểm cao trọng yếu dọc biên giới rơi vào tay địch. Thông tin về mất mát đau thương lớn này cho đến nay vẫn chưa được chính thức công bố, gần đây mọi người mới được biết qua blog của nhà văn Phạm Viết Đào, người có em trai ruột hy sinh trong trận đánh bảo vệ Tổ Quốc âm thầm ấy. Tại sao lại chủ trương bưng bít thông tin về một sự kiện hệ trọng như vậy? Đây vẫn là một câu hỏi lớn mà nhân dân và lực lượng vũ trang đặt ra cho những người lãnh đạo. Cũng như nhân dân và lực lượng vũ trang cần được biết tại sao lại chủ trương không cho tái bản và không cho tiếp tục thực hiện các công trình nghiên cứu sáng tác về cuộc chiến chống bọn diệt chủng Pôn – pốt, chống giặc bành trướng trên biên giới phía bắc và trên biển Đông, tại sao lại không tổ chức tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh trên các tuyến đầu bảo vệ Tổ Quốc ấy? Những người lãnh đạo không thể lẩn tránh mãi việc trả lời nhân dân và lực lượng vũ trang về các việc hệ trọng này. Rõ ràng đây là bằng chứng về sự phản bội đối với các chủ trương đúng đắn có tính nền móng của đại hội 6 “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, lấy dân làm gốc, công khai dân biết dân bàn…”, phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với MỌI VẤN ĐỀ, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý.Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người” (Hồ Chí Minh toàn tập NXB CTQG, H, , t8, tr216 )

Tóm lại:

Rõ ràng Đảng không có dân chủ.

Đất nước không có dân chủ.

Mục tiêu dân chủ của cuộc cách mạng chưa đạt được.

Cách mạng dân tộc dân chủ chưa hoàn thành.

Không những thế, dưới danh nghĩa xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã diễn ra một quá trình hủy hoại toàn diện nội lực dân tộc, hủy hoại các thành quả dân chủ mà nhân dân đã đạt được từ đầu năm 1946 và bản thân Đảng mất dần tư cách yêu nước vì dân.Nhân dân đã tự nguyện tạm gác một số quyền tự do cơ bản mà mình từng được hưởng một thời gian ngắn sau Cách mạng tháng Tám 1945 để dồn sức cho 2 cuộc kháng chiến, nhưng sau khi đất nước đã có hòa bình độc lập thống nhất, sự tự nguyện tạm gác các quyền ấy đã bị khéo léo trấn lột dưới dạng sắp đặt một cuộc hiến dâng tự nguyện.

Rõ ràng nhiệm vụ bao trùm của toàn Đảng toàn dân hiện nay phải là tạm gác mục tiêu xã hội chủ nghĩa để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ.

Đây là mệnh lệnh của cuộc sống, cô đúc trong tám chữ TỔ QUỐC TRÊN HẾT, QUYỀN DÂN TRÊN HẾT,

Là mệnh lệnh của lịch sử, của hồn thiêng sông núi tổ tiên ngàn đời, của hồn thiêng lớp lớp anh hùng liệt sĩ chống ngoại xâm chống bành trướng vang lên qua giai điệu hào hùng của nhạc sĩ thiên tài Văn Cao từ Cách mạng Tháng Tám:

LẬP QUYỀN DÂN, TIẾN LÊN, VIỆT NAM !

II

Hiện nay, trước hết cần làm mấy việc cơ bản nhất và cũng cấp bách nhất:

1. Trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân (nhấn mạnh cho thật rõ: quyền tư hữu vĩnh viễn chứ không phải quyền sử dụng có thời hạn ) tiến tới phải chính thức Hiến định quyền tư hữu tài sản của công dân (như Hiến pháp năm 1946), nhưng trước hết hãy bắt đầu bằng thực hiện người cày có ruộng.

2. Trả lại quyền tự do báo chí tự do xuất bản cho công dân, sửa ngay luật báo chí và luật xuất bản, bổ sung điều khoản công dân được quyền ra báo tư nhân, lập nhà xuất bản tư nhân, lập tổ chức nghiên cứu khoa học tư nhân (gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội).

3. Trả lại quyền tự do lập hội, tự do nghiệp đoàn cho công dân.

4. Trả lại quyền tự do ứng cử và bầu cử (gồm cả quyền tự do không đi bầu) cho công dân và đảng viên.

Ai làm những việc trên?

Các cấp ủy Đảng với 51% bị giặc nội xâm chiếm chỗ thì đương nhiên không chịu làm (tuy cũng có số ít cấp ủy viên yêu nước vì dân muốn làm nhưng lực bất tòng tâm), không những thế còn tìm mọi cách chống lại.

Như vậy người làm không ai khác là toàn Đảng toàn dân. Thực chất việc làm này là một cuộc đòi nợ và trả nợ. Với tư cách lãnh đạo, Đảng phải trả món nợ quyền dân. Với tư cách là nạn nhân của chế độ cực quyền do chính mình dựng nên, Đảng là người đòi món nợ quyền dân, cùng với nhân dân đòi, tổ chức và lãnh đạo nhân dân đòi. Toàn Đảng phải bắt đầu từ từng đảng viên. Toàn dân phải bắt đầu từ từng người dân. Từng đảng viên đòi.Từng người dân đòi. Đòi hàng ngày. Đòi ngày này sang ngày khác. Tập hợp nhau lại mà đòi. Tập hợp ở đâu? Trước hết ở ngay trong các tổ chức hiện hành. Phải nhớ rằng tổ chức Đảng và các hội đoàn là thành quả cách mạng xây đắp bằng bao nhiêu xương máu, không thể để bọn vua quan cách mạng biến thành bệ đỡ cho ngai ghế của chúng. Đảng viên phải làm chủ Đảng. Công dân phải làm chủ các hội đoàn mà mình đang tham gia (song song với việc đòi có luật tự do lập hội và nhen nhóm, phát triển các phương thức tổ chức vô cùng phong phú của sinh hoạt xã hội dân sự). Còn nguyên vẹn đó con người Việt Nam bước ra từ Cách Mạng Tháng Tám “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (thơ Nguyễn Đình Thi), những con người đã chớm biết thế nào là cuộc đời tự do “có hội nghị, phê bình, chất vấn” (thơ Hồng Nguyên). Phải làm bừng dậy hồn dân tộc, nhân dân, cái hồn xã hội dân sự trong sinh hoạt Đảng và các hội đoàn mà giặc nội xâm đang thao túng, phải biến các hoạt động mà chúng chỉ muốn thực hiện bằng bàn tay sắp đặt theo kiểu trình diễn hình thức với vai diễn là đảng viên và nhân dân làm bình phong làm con rối phục vụ lợi ích đen tối của chúng, thành hoạt động có thực chất phục vụ lợi ích của đất nước và bản thân mình.

Muốn đẩy lùi và loại trừ dần sự thao túng của giặc nội xâm, Đảng phải tự đổi mới bản thân Đảng, đổi mới về tư tưởng, đổi mới về tổ chức (nói đổi mới nhưng thực chất là kiên quyết sửa chữa tận gốc những cái sai, thực hiện triệt để những điều đúng).

Về tư tưởng, chỉ cần gói gọn trong 8 chữ giản dị, dễ hiểu

TỔ QUỐC TRÊN HẾT, QUYỀN DÂN TRÊN HẾT.

Từ nền móng tư tưởng đó, tôi thấy cần xác định lại về tổ chức: Đảng là tập hợp tinh hoa trí tuệ và nhân cách của mọi công dân Việt Nam yêu nước vì dân, thuộc mọi giai cấp giai tầng tôn giáo dân tộc tự nguyện hiến dâng đời mình làm người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu chiến đấu cho nền hòa bình thống nhất độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam, cho tự do của mỗi con người Việt Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất độc lập dân chủ và giầu mạnh.Xác định lại như thế Đảng mới tự gỡ mình thoát khỏi thảm trạng đối nghịch giữa danh và thực bởi cái vòng kim cô của ý thức hệ giai cấp phản khoa học mà thế lực nội xâm bấy lâu sử dụng như một công cụ nhằm thâu tóm mọi quyền của đảng viên, của công dân vào tay một người, một nhóm.

Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình bằng gì?

1/ – Bằng đường lối đúng,

2/ – Bằng vận động giáo dục thuyết phục

3/ – Bằng tấm gương tận tụy, hy sinh, chí công vô tư của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trong quá khứ, Đảng đã được nhân dân thừa nhận vai trò lãnh đạo mà không cần một điều Hiến định nào như điều 4 hiện nay là nhờ vậy. Đó là quá trình xuôi thuận của một lực lượng chính trị từ nhân dân mà ra, vì nhân dân quên mình mà trở thành lực lượng lãnh đạo, trong đó yếu tố thường xuyên gương mẫu của người chiến sĩ cách mạng, người cán bộ lãnh đạo là quyết định. Không có yếu tố này thì các yếu tố khác dù hay ho mấy cũng không được nhân dân tin theo. Nhưng từ đại hội 4 (1976), đã xuất hiện một diễn trình ngược. Đường lối thì sai lầm, mất yếu tố tiền phong gương mẫu về trí tuệ. Cán bộ Đảng thì trượt dài trên con đường thoái hóa sa đọa, mất yếu tố gương mẫu về nhân cách. Không thể vận động giáo dục thuyết phục được ai nữa, chỉ còn cách bưng bít ngăn chặn thông tin, mệnh lệnh áp đặt, thậm chí dùng bạo quyền thay cho lẽ phải để trấn áp đồng chí đồng bào yêu nước yêu tự do. Đảng trở thành một hệ thống siêu quyền lực trùm lên hệ thống Nhà nước với bộ máy cồng kềnh đông đặc quan chức, trụ sở đồ sộ, xe cộ nghênh ngang chi xài bằng tiền thuế của dân, công việc trùng lặp chồng chéo, quyền càng to trách nhiệm càng mù mờ, lẩn tránh đùn đẩy lẫn nhau, hàng ngàn hàng vạn sự bê bối chồng chất mà không mấy trường hợp chỉ ra được cá nhân nào chịu trách nhiệm.

Để giữ vững sự lãnh đạo đích thực của Đảng theo đúng 3 tiêu chí nêu trên thì cần gì một bộ máy khổng lồ như thế với trụ sở phương tiện tốn kém như thế? Một trí tuệ lớn trong lều rách hay nơi hầm tối giữa lòng dân cũng đủ đem đến cho dân cho nước một sự lãnh đạo đúng đắn.Tôi không cực đoan máy móc yêu cầu cán bộ đảng thời bình phải sống như thời chiến, nhưng đây là điều bắt buộc bởi nguyên tắc không được nói một đằng làm một nẻo, đã tuyên bố vì nhân dân quên mình, là người chiến sĩ tiền phong gương mẫu thì phải sống đúng như thế. Cấu trúc 2 hệ thống quyền lực song trùng là một cấu trúc phản động phản dân chủ du nhập từ mô hình Liên xô, phản lại chính chức năng lãnh đạo, phản lại truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân, là cấu trúc tự cắt đứt cội nguồn dân tộc, cội nguồn cách mạng, nó chỉ mở cửa cho những phần tử cơ hội chui vào Đảng ngày càng đông để thăng quan phát tài, nhân danh cách mạng để làm vua quan cách mạng, thực chất đây là một hệ thống phản cách mạng, phản tiến hóa.

Một đòi hỏi rõ ràng bức thiết đã đặt ra:

Để giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, phải thực hiện ngay mấy biện pháp sau đây:

1/ – Đảng tự nguyện giao lại toàn bộ cơ sở vật chất phương tiện cho Nhà nước; toàn bộ cán bộ và nhân viên thuộc các cấp ủy Đảng từ cơ sở tới trung ương tự nguyện tự túc để hoạt động, những bộ phận chuyên nghiệp (rất gọn nhẹ) thì thuê trụ sở và hưởng lương từ quỹ đảng phí hoặc do nhân dân tự nguyện công khai minh bạch góp nuôi. Một đảng chính trị hoạt động theo phương thức này nhất định sẽ được nhân dân thấy rõ phẩm chất vì nhân dân quên mình mà sẵn sàng gửi gắm niềm tin, và đến lượt mình bản thân đảng lãnh đạo cũng hoàn toàn có đủ tự tin để đón nhận sự ra đời hợp qui luật của các đảng đối sánh, đối lập cùng chung mục tiêu (và động lực) Tổ Quốc trên hết quyền dân trên hết như mình, thi đua nhau cạnh tranh nhau xem đảng nào có đường lối đúng nhất, có nhiều cán bộ gương mẫu nhất để cho dân chọn.

2/ – Đảng trao quyền cho dân giúp Đảng lựa chọn cán bộ bằng cách tổ chức bầu cử Quốc hội trước rồi mới tiến hành đại hội Đảng, những đảng viên nào trúng cử vào Quốc hội mới được đề cử ứng cử vào trung ương, đồng thời phải trả lại quyền công dân cho toàn thể đảng viên được tự do ứng cử vào Quốc hội không cần thông qua tổ chức Đảng.Cũng đồng thời kiến nghị với Quốc hội sửa ngay luật bầu cử, bỏ điều khoản sàng lọc ứng cử viên qua hiệp thương ở Mặt trận Tổ Quốc vì điều khoản này thủ tiêu quyền tự do ứng cử của công dân. Khi số đảng viên được dân bầu chọn (tất nhiên phải bằng lá phiếu tự do tự chủ) chiếm quá bán trong Quốc Hội – và Quốc Hội phải chuyên nghiệp 100% với thực chất là cơ quan quyền lực tối cao, với vị trí độc lập của 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, thì lúc ấy đảng lãnh đạo trở thành đảng cầm quyền, đường lối của Đảng trở thành quốc sách. Người đảng viên là đại biểu quốc hội phải đặt trách nhiệm đại biểu lên hàng đầu, những ý kiến chỉ đạo của cấp ủy không phù hợp với tư duy độc lập của người thay mặt dân ở cơ quan lập pháp thì có quyền không chấp hành. Trong sinh hoạt Đảng và cơ quan dân cử, các ý kiến thiểu số phải được bảo lưu bằng việc bình đẳng công bố và truyền bá rộng rãi, bởi vì bảo lưu trong hộp sọ là vô nghĩa. Thực tế cho thấy các ý kiến thiểu số nếu đúng đắn sáng suốt mà công bố kịp thời sẽ mau chóng trở thành ý kiến đa số giúp Đảng sớm thấy sai lầm, kịp thời điều chỉnh, thay đổi đường lối.

Không thể để kéo dài mãi tình trạng toàn bộ quyền lực của đất nước lại thâu tóm vào mười mấy ủy viên Bộ Chính trị mà không người nào đạt tiêu chuẩn tinh hoa về trí tuệ và nhân cách, trong khi vốn cán bộ của Đảng rất dồi dào, đại đa số đảng viên là những người đã sống cuộc đời vì nhân dân quên mình, trong đó có rất nhiều cán bộ tiêu biểu về trí tuệ và nhân cách hơn hẳn mười mấy người đương nhiệm. Và vốn cán bộ của cả dân tộc thì lại càng dồi dào gấp bội. Việc hệ trọng hàng đầu của nước ta (và của bất kỳ quốc gia nào) từ xưa đến nay và mãi mãi về sau là làm sao đưa được những người năng lực tài giỏi nhất, nhân cách đáng tin cậy nhất ra gánh vác việc dân việc nước chứ không nệ là đảng viên hay không đảng viên, đã qua mấy khóa trung ương hay chưa.

Hai biện pháp nêu trên khó làm hay dễ làm?

Vừa khó vừa dễ.

Khó, khi toàn Đảng toàn dân thờ ơ, phó mặc mọi việc cho các quan chức, hoặc thụ động ngóng chờ “vận nước”. Mà các quan chức thì đương nhiên là không ưa gì hai biện pháp trên dù nếu công khai thảo luận thì họ cũng khó bề bác bỏ.

Dễ, khi toàn Đảng toàn dân thoát ra khỏi tình trạng thờ ơ thụ động (và manh động khi bị đụng chạm một số quyền lợi cụ thể), tự khôi phục truyền thống tích cực chủ động năng động như trước kia với tấm gương tiêu biểu là các đảng viên Kim Ngọc, Võ Văn kiệt.

Phải cùng nhau thống nhất rành mạch nhận thức: khi nói đến sự lãnh đạo của Đảng là nói đến toàn Đảng chứ không chỉ là cấp ủy Đảng. Khi cấp ủy đã bị 51% giặc nội xâm chiếm chỗ thì làm gì còn sự lãnh đạo đúng nghĩa nữa, chỉ còn là mệnh lệnh áp đặt, là tình trạng đầu lĩnh dùng cấp hàm bổng lộc để sai khiến thủ túc, còn thủ túc dùng quà biếu siêu tình cảm nắm lấy yếu huyệt của đầu lĩnh để giữ ghế và leo lên ghế cao hơn.

Một sự thật ai cũng thấy từ lâu: đại đa số đảng viên thì tốt, nhưng đa số cấp ủy viên lại càng ngày càng tệ hại liên tục hết nhiệm kỳ này sang nhiệm kỳ khác.Nhiệm kỳ nào nhân sự cũng được bí mật sắp đặt ở đâu đó bên trên từ bàn tay một người hoặc một nhóm người rồi đại hội nào cũng “dân chủ đổi mới đoàn kết”, cũng “thành công tốt đẹp” để bầu ra các cấp ủy ngày càng tệ hơn.

Ai bầu?

Ở cơ sở thì đảng viên tốt chiếm đa số tham gia bầu (các cơ sở đảng trong cơ quan chưa hẳn được như thế). Nhưng nếu thụ động bầu theo cái danh sách được sắp đặt sẵn từ bên trên, thì tất đẻ ra một đoàn đại biểu đi dự đại hội phần lớn là quan chức. Cứ thế, tới đại hội toàn quốc thì trở thành đại hội của các quan chức trong Đảng, tính chất đại diện cho đa số đảng viên – những người vì nhân dân quên mình, không còn nữa, cấp ủy được bầu ra trở thành cấp ủy quên mình trên đầu lưỡi, lòng dạ thì dốc hết vào việc tìm mọi cách khoét công quỹ, móc túi dân cướp đất dân bịt miệng dân.

Đã bao nhiêu đại hội như thế rồi.

Nay có để như thế nữa không?

Nhiều cụ lão thành bảo nhau:

Đại hội 11 này chúng ta phải quyết làm phá sản thủ đoạn bè phái sắp đặt nhân sự. Bao năm qua, ý thức tổ chức của ta, niềm tin ở cấp trên của ta bị lợi dụng để phục vụ cho trò sắp đặt nhân sự. Nay thì đừng hòng lợi dụng ta nữa. Ta sẽ gạch phăng những cái tên ta biết rõ là phần tử xấu, cũng gạch phăng cả những cái tên chưa biết rõ là có tốt hay không, gạch tuốt, gạch tuốt, những ai tốt thì hãy công khai tự nguyện làm đảng viên tự túc hoạt động, giao lại trụ sở cho Nhà nước, không nhận lương, tự động đi vận động quần chúng chống nội xâm chống bành trướng, những ai như thế tự ứng cử thì sẽ không bị ta gạch tên, chúng ta bảo nhau trong tất cả các chi bộ các đảng bộ, gạch tuốt, gạch tuốt những cái tên bất lương, phải làm sao có một đại hội toàn quốc gồm phần lớn là các đại biểu tiêu biểu về trí tuệ và lương tâm thì mới mong có được một Trung ương mới, một Bộ Chính trị mới xứng đáng.

Nghe được vậy, một cán bộ tổ chức còn trẻ và thật tâm muốn đổi mới thưa lại:

- Cháu đố các bác thay đổi được cái nếp bỏ phiếu theo sự sắp đặt ấy đấy. Nhiều năm trước, người ta đã chủ trương khéo để các bác nghỉ sinh hoạt Đảng mà vẫn giữ danh hiệu đảng viên, đến kỳ đại hội mời các bác về nhận huy hiệu, nhận quà là chính rồi giơ tay biểu quyết mọi sự đã sắp sẵn, các bác đã cao tuổi, cơ thể mệt mỏi, đầu óc lại thiếu thông tin, cái cánh tay giơ lên, cái bàn tay cầm lá phiếu đã bị điều kiện hóa theo tâm lý đám đông rồi, dễ gì mà thay đổi.

- Tình hình bấy lâu đúng là có như thế thật và không phải bây giờ cháu nói ta mới biết. Trong phạm vi toàn Đảng thì bọn quên mình đầu lưỡi là thiểu số. Chúng xảo quyệt dùng thủ đoạn sắp đặt để sao cho người của chúng đều chiếm đa số ở các đại hội. Nhưng nay thì cái thủ đoạn ấy không lừa ai được nữa đâu, bọn chúng không thể muốn tác oai tác quái thế nào cũng được đâu. Khi đã nhận ra thủ đoạn của chúng rồi thì những người cả đời vì nhân dân quên mình như chúng ta cùng con cháu ta, bà con bạn hữu ta, những người thuộc phe vì nhân dân quên mình này chiếm tuyệt đại đa số đấy nhé, chúng ta quyết dùng lá phiếu làm vũ khí để loại chúng ra. Chúng ta chỉ cần bảo nhau ngắn gọn mấy câu “Chống mệt mỏi, chống sắp đặt!”, “Nghị trường là mặt trận, lá phiếu là vũ khí, cử tri là chiến sĩ!”, “Gạch tuốt! Gạch tuốt bọn quên mình đầu lưỡi!”, ngắn gọn mấy câu thế thôi, bảo nhau qua báo chí, bảo nhau qua mạng thông tin toàn cầu, ai không có báo có mạng thì truyền miệng, truyền hàng ngày, truyền hàng giờ, ở bất cứ đâu, trong nhà, ngoài phố, trong lúc giải lao bên bờ ruộng, trong đám cưới đám giỗ đám tang, đám họp họ, họp đồng hương, họp lớp cũ trường cũ, bảo nhau làm một việc rất dễ làm, đảng viên nào cũng làm được, cử tri nào cũng làm được, làm như một niềm vui, làm cho tăng tuổi thọ, đây là niềm vui lập quyền dân bốn nghìn năm ta mới có, bắt đầu từ cái quyền rất bình thường:

“Gạch tuốt! Gạch tuốt bọn quên mình đầu lưỡi!”.

Đà Lạt 4g 48’ ngày 21.12.2009

BMQ

Hai bài phỏng vấn Luật sư Trần Lâm: Đối ngoại và đối nội và Để Việt Nam dân chủ

Đối ngoại và đối nội

Mặc Lâm, phóng viên đài RFA

Luật Sư Trần Lâm, nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm. Ông được biết đến trong các vụ tranh cãi có liên quan đến dân chủ nhân quyền trong nước. Luật sư Trần Lâm vừa có bài viết nhận định tình hình chính trị hiện nay với nhiều chi tiết đang gây sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước.

20836
Luật sư Trần Lâm và Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang (từ trái sang phải)

Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn ông được chia làm hai phần. Phần đầu ông nói về cách hành xử của chính quyền trước các vấn nạn như Biển Đông, tình hình nông dân mất đất cũng như những hậu quả chính trị và xã hội xảy ra như thế nào.

Hợp tác với Trung Quốc là nắm dao đằng lưỡi

Mặc Lâm: Thưa ông, hiện nay mối lo ngại Trung Quốc đang âm ỉ và trong nội bộ Đảng có khuynh hướng chia ra nhiều ý kiến khác nhau. Một trong các ý kiến cho rằng nên hợp tác với Trung Quốc để khai thác tài nguyên trong đó có cả quặng mỏ và dầu khí còn hơn là trực diện đối đầu với họ sẽ mang nhiều nguy hiểm hơn. Ý kiến của ông như thế nào thưa ông?

Hợp tác với nhau để làm ăn thì vốn của hai người phải bằng nhau chứ! Không có vốn thì làm sao được? Thứ hai là phải có kỹ thuật. Người ta giỏi hơn mình còn mình thì kém hơn thì làm sao làm ăn? Thứ ba nữa là họ thông qua người cầm đầu của mình, họ chi phối. Điều này chỉ là cái vỏ thôi, còn bên trong thì người ta lấy hết rồi.

Luật Sư Trần Lâm: Nếu nói hợp tác thì phải thế này: Điều thứ nhất là phải có nhiều tiền. Bởi vì tôi với ông hợp tác với nhau để làm ăn thì vốn của hai người phải bằng nhau chứ! Không có vốn thì làm sao được? Thứ hai là phải có kỹ thuật. Người ta giỏi hơn mình còn mình thì kém hơn thì làm sao làm ăn? Thứ ba nữa là họ thông qua người cầm đầu của mình, họ chi phối. Điều này chỉ là cái vỏ thôi, còn bên trong thì người ta lấy hết rồi.

Thí dụ như đánh cá ở ngoài biển thì nó nguy hiểm như thế này: Ngay chính bây giờ tàu đánh cá của mình còn mang bán cá cho Trung Quốc cơ mà! Và ở ngoài bể thì biết đâu mà chia? Còn dầu khí thì nó bí mật lắm, mình biết được ngày hôm nay là bao nhiêu, nói ra bằng ấy thôi nhưng vì họ đã chi phối được mình rồi thì họ công khai 10 mà họ lấy 20 thì làm sao mình biết? Tình hình như thế cho nên cùng kinh doanh thì chỉ là hình thức mà thôi vì người ta đã nắm người cầm đầu của mình rồi thì mặc sức mà tung hoành!

Bây giờ Trung Quốc dùng những áp lực về quân sự, những áp lực về chính trị, những áp lực về kinh tế để nô dịch mình, để mà gặm nhấm mình tuy chưa thật rõ lắm, nhưng cái cách của họ là thế này: Họ chi phối người cầm đầu của mình. Thông qua người cầm đầu của mình họ đưa việc của họ vào, đấy là cách của họ.

Bây giờ Trung Quốc dùng những áp lực về quân sự, những áp lực về chính trị, những áp lực về kinh tế để nô dịch mình, để mà gậm nhấm mình tuy chưa thật rõ lắm, nhưng cái cách của họ là thế này: Họ chi phối người cầm đầu của mình. Thông qua người cầm đầu của mình họ đưa việc của họ vào, đấy là cách của họ ngày hôm nay như thế. Không phải dùng kinh tế, chính trị hay quân sự như người ta thường nghĩ.

Cách này thì các nhà nghiên cứu thế giới đã nói, nếu mà như thế thì sẽ khơi động sự chống đối ở trong nước đối với người cầm quyền chứ không phải chống đối Trung Quốc. Bởi vì Trung Quốc họ có hiện diện ở đây đâu mà mình chống đối được? Họ dùng người cầm quyền của mình thì mình phải trở lại chống người cầm quyền của mình. Thế hoá ra mình lại đánh mình! Tình hình hiện nay là như vậy đấy.

Nông dân bị bạc đãi, bóc lột

Mặc Lâm: Nông dân là thành phần đại đa số của xã hội Việt Nam và ông đã khẳng định trong bài viết của mình rằng thành phần này đã và đang bị bạc đãi một cách tồi tệ. Ông có thể cho thính giả biết một cách cụ thể hơn hay không?

Luật Sư Trần Lâm: Điều quan trọng nhất là mình không cho nông dân chuyển hoá ruộng đất, không cho họ làm gì cả họ vẫn như ngày xưa. Trên thực tế khi người ta làm nông nghiệp thì luôn luôn thừa nhân lực, lúc đó phải dạy nghề, hay đưa vào công trường, nhà máy thì mới cơ giới hoá, hiện đại hoá được. Thực ra một nước nông nghiệp chỉ có thể lấy nhân lực từ khu vực nông dân mà thôi. Thành phố có ít dân cư nên không thoả mãn được nhu cầu nhân lực. Lực lượng nhân lực từ nông dân rất lớn cho nên muốn đưa vào dầu khí, vào cơ khí hay khai mỏ… đều là con em của người nông dân chứ thành phố có mấy? Vì vậy không cải tạo nông nghiệp thì không rút được lao động ra.

Thành phố có ít dân cư nên không thoả mãn được nhu cầu nhân lực. Lực lượng nhân lực từ nông dân rất lớn cho nên muốn đưa vào dầu khí, vào cơ khí hay khai mỏ… đều là con em của người nông dân chứ thành phố có mấy? Vì vậy không cải tạo nông nghiệp thì không rút được lao động ra.

Mà lao động muốn sử dụng được thì phải có học hành như thành thị. Nông dân cứ bị kềm hãm như thế là một việc sai về nguyên lý rất rõ ràng. Cái sai thứ hai là cứ giữ không cho nông dân chuyển động ruộng đất của họ. Tôi đã từng chứng kiến một hộ nông dân nọ có một cái bìa ruộng quy định theo nhà nước.

Có cái một trăm mét vuông có cái 50 mét vuông mà có hộ có đến hơn 10 mảnh đất lẻ tẻ như vậy mà từ mảnh nọ đến mảnh kia có khi cách nhau cả hai cây số! Thế thì còn làm ăn gì được nữa? Không cho người ta mua bán sang nhượng cứ giữ người ta như thế. Ung nhọt như thế, bức bối như thế kềm hãm người ta đến mức như thế!

Mặc Lâm: Theo những ghi nhận của nhiều tổ chức quốc tế thì người nông dân đã có đời sống tốt hơn vì sản xuất lúa gạo tăng trưởng mạnh và nhất là sau thời kỳ mở cửa thì tình trạng khá hơn rất nhiều…

Luật Sư Trần Lâm: Đến khi ông ấy mở cửa… Mở cửa thì phải có đất để mở mang xí nghiệp, công trường rồi các công xưởng rồi làm đường làm xá… vì vậy cần phải có diện tích đất. Thế thì lại lấy của nông dân… Nông dân đã không có đất rồi mà lại mất đất thêm nữa! Mà lại khổ như thế này, cứ có miếng nào ngon nằm chỗ tốt nhất thì lại lấy để làm công xưởng! Các nước trên thế giới có luật riêng của họ về trưng dụng đất. Nếu lấy đất để làm công nghiệp thì phải ở những chỗ không sản xuất được hoặc thật xa khu dân cư thì mới chấp thuận. Còn ở ta thì ông nhà nước ông ấy lấy gần Hà Nội, ông ấy lấy gần Hải Phòng… toàn những hạng ruộng đất phì nhiêu, màu mỡ để làm công trường và đuổi người nông dân ra khỏi đất!

Mặc Lâm: Dư luận báo chí cho rằng vần đề đất đai đã đẻ ra tình trạng tham nhũng hiện nay, ông có chia sẻ như vậy hay không?

Luật Sư Trần Lâm: Nếu chỉ có thế thôi thì đẻ ra kìm hãm nông dân nhưng đồng thời lại đẻ ra cái thứ hai nữa là sử dụng đất của nông dân vừa lãng phí vừa không hợp lý làm cho nông dân đói khổ. Nhưng không phải chỉ hai cái đó, nó còn có cái thứ ba là tham nhũng. Lấy đất của người ta một mét vuông trả cho người ta nửa đô la một mét nhưng đến khi mình bán thì giá lại thì từ 20 cho tới 100 đô la một mét! Thế là tham nhũng đất của nông dân và bán chác lấy tiền. Người nông dân mất đất, nhà nước trở thành tham nhũng. Tham nhũng đất đai là tham nhũng lớn nhất của ta hiện nay, làm đảo lộn xã hội, làm suy đồi chính quyền.

Lấy đất của người ta một mét vuông trả cho người ta nửa đô la một mét nhưng đến khi mình bán thì giá lại thì từ 20 cho tới 100 đô la một mét! Thế là tham nhũng đất của nông dân và bán chác lấy tiến. Người nông dân mất đất, nhà nước trở thành tham nhũng.

Chia rẽ giữa chính quyền và nông dân

Mặc Lâm: Và theo ông thì hậu quả chính trị dễ thấy nhất là gì khi tham nhũng tràn lan một cách không thể kiểm soát như vậy?

Luật Sư Trần Lâm: Việc này gây ra kẻ thù là người nông dân! Và đồng thời tự mình tha hoá. Tham nhũng thì hư đốn. Họ cướp bóc nên có tiền xây dựng nhà cửa ghê gớm lắm. Trước kia người ta vẫn nghĩ ai cũng là người Việt cả nhưng bây giờ thì không còn nữa, người Việt Nam chia ra rồi có còn như trước nữa đâu! Hai giai cấp rõ ràng giai cấp của tham quan có tiền thừa bạc để, giai cấp nông dân nghèo đói thê lương!

Bản thân chính sách và luật pháp cho nông nghiệp nó đã kìm hãm rồi. Thứ hai nữa khi mở cửa nó lại sinh ra việc lấy đất của nông dân vì thế cho nên mới xảy ra các vụ biểu tình. Những người trong Nam kéo ra Hà Nội để biểu tình. Từ các tỉnh kéo về… có lúc Hà Nội một ngày có mấy cuộc biểu tình thành thử ra bây giờ chính trị cũng mất mà về kinh tế thì nông dân họ có muốn làm lụng gì đâu. Người nông dân còn bị những chuyện đau lòng ghê gớm nữa là vấn đề con cái.

Đặc điểm ở ngoài Bắc thì đa số đều muốn con cái có bằng cấp để có thể vào làm việc trong nhà nước, làm quan mà! Cái tư tưởng làm quan đã ăn sâu vào người Việt từ hàng ngàn năm rồi, đặc biệt là ở ngoài Bắc.

Thế nên có bao nhiêu tài sản đều đổ vào cho đứa con nó đi học nhưng nền giáo dục nó suy sụp đến mức báo động rồi. Học thì học nhưng con cháu tôi nó dốt lắm cơ!

Bản thân chính sách và luật pháp cho nông nghiệp nó đã kìm hãm rồi. Thứ hai nữa khi mở cửa nó lại sinh ra việc lấy đất của nông dân vì thế cho nên mới xảy ra các vụ biểu tình. Những người trong Nam kéo ra Hà Nội để biểu tình. Từ các tỉnh kéo về… có lúc Hà nội một ngày có mấy cuộc biểu tình.

Chúng tôi học chẳng bao nhiêu nhưng thấy con cháu mình kém xa sự hiểu biết của thời chúng tôi đi học ngày xưa. Người nông dân bị đánh tứ phía, bị đánh đủ mọi mặt!

Tội phạm gia tăng

Mặc Lâm: Còn hệ quả xã hội thì theo ông có phải nó đang ăn mòn mọi giá trị đạo đức cũng như văn hoá theo như báo chí đánh động lâu nay hay không?

Luật Sư Trần Lâm: Người ta không có ăn vì thế mới đẻ ra là họ đi khắp nơi kiếm sống. Họ kiếm sống không được nên họ phá! Mà đã phá rồi thì trở thành tội phạm! Tôi cho một thì dụ: Người ta ngồi đọc báo Công An rồi người ta tỉ mỉ ghi dấu tất cả những vụ phạm tội thì thấy ra một điều, những kẻ phạm tội 95% đều đến từ nông thôn, đều từ nông thôn ra tỉnh hết.

Họ không có việc làm, họ đói nên phải bò đi. Không có nghề nghiệp mà lại đói thì bắt đầu phá! Phá thế cho nên tội phạm khắp nơi. Tại Hà Nội ngày nay người nông dân đổ về đông không kể xiết.

Thế bây giờ cứ hỏi tại sao lại bán dâm, tại sao lại bán phụ nữ ra nước ngoài, tại sao lại bán trinh… bây giờ nhé, người ta bị ốm, ốm mà không có tiền mua thuốc. Nếu không có thuốc thì chết thế thì có gì mà chả bán?

Hà Nội không còn cái kiểu gì của Hà Nội cả, nó lai căng y như kiểu dân nhập cư tại châu Âu! Có người đến Paris than rằng khổ lắm da đen nằm ở khắp nơi… đại để nó như thế. Thế bây giờ cứ hỏi tại sao lại bán dâm, tại sao lại bán phụ nữ ra nước ngoài, tại sao lại bán trinh… bây giờ nhé, người ta bị ốm, ốm mà không có tiền mua thuốc.

Nếu không có thuốc thì chết thế thì có gì mà chả bán? Việc bán con bây giớ rất thịnh hành ở Việt Nam, trước kia thì cũng có chứ không phải không nhưng mà nó rất lẻ tẻ không như bây giờ. Người không thuốc men sắp chết rồi thì đành phải bán con. Hay là có người nông dân chạy được một số tiền đem người nhà mình lên bệnh viện Hà Nội, người ta cho biết thuốc rất đắt phải hết bằng này tiền… thế nên người nông dân đành phải đưa người nhà mình về.

Đấy nó kéo theo hệ quả bao trùm tất cả, bởi vì nước ta bây giờ 75 tới 80% là nông dân mà tất cả 75% đều khốn đốn như thế thì có phải cả nước đang khốn đốn hay không?

Mặc Lâm: Xin cám ơn LS Trần Lâm.

Thưa quý thính giả LS Trần Lâm sẽ tiếp tục trình bày quan điểm của ông về việc chính quyền không coi trọng tự do ngôn luận cũng như cô lập các trí thức có phản biện. Ông cũng đưa ra lập luận làm cách nào để Đảng cầm quyền hiện nay hoạt động hiệu quả hơn, mời quý vị đón theo dõi phần hai cũng do Mặc Lâm thực hiện trong lần phát thanh tới.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Interview-lawyer-Tran-Lam-about-his-new-article-focused-on-the-party-12082009154252.html

Để Việt Nam dân chủ

Mặc Lâm, phóng viên RFA

Trong phần trước LS Trần Lâm nói về cách hành xử của chính quyền trước các vấn nạn như Biển Đông, tình hình nông dân mất đất cũng như những hậu quả chính trị và xã hội xảy ra như thế nào.

Trong phần này ông đưa ra những đề nghị nhằm thay đổi hệ thống chính trị mà không làm biến động lớn có ảnh hưởng đến xã hội.

Luật Sư Trần Lâm, nguyên Thẩm phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm. Ông được biết đến trong các vụ tranh cãi có liên quan đến dân chủ nhân quyền trong nước.

Luật sư Trần Lâm vừa có bài viết nhận định tình hình chính trị hiện nay với nhiều chi tiết đang gây sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước.

Tự do báo chí

Mặc Lâm: Theo dư luận quốc tế thì Việt Nam đang thiếu trầm trọng tự do báo chí? Về lâu về dài thì ai sẽ là người thiệt thòi nhất khi thiếu quyền được thông tin này?

Luật Sư Trần Lâm: Không phải về lâu về dài đâu mà ngay ngày hôm nay. Tin tức thì phải nhiều chiều nhiều hướng để người ta so sánh rồi có chủ đạo về tin tức đưa ra. Hiện nay tất cả tin tức đều phải lấy ở Việt Nam Thông Tấn Xã. Cả trăm tờ báo mà đều lấy ở một chỗ cho nên người ta nói có 700 tờ báo nhưng chỉ có một tổng biên tập. Đấy tức là cầm đoán và anh không được tự tạo. Thế thì còn gì? Thế thì chỉ cần ra một tờ báo thôi.

Cả trăm tờ báo mà đều lấy ở một chỗ cho nên người ta nói có 700 tờ báo nhưng chỉ có một tổng biên tập. Đấy tức là cầm đoán và anh không được tự tạo.

LS Trần Lâm.

Mặc Lâm: Quyết định 97 đã khiến cho IDS tự giải thể, theo LS thì việc phong tỏa sự phản biện của nhà nước sẽ gây ra những nguy hại gì cho đất nước?

Luật Sư Trần Lâm: Riêng về phản biện: Phản biện thì phải để người ta tự do, phản biện hay muốn phê phán điều gì mà phải viết đưa lên một cơ quan, rồi cơ quan ấy vất vào sọt rác thì làm gì? Người ta không thích người ta không dùng thì sao? Thế thì ai còn phản biện nữa?

Phản biện mà nói quá có khi còn bị là khác. Bị sách nhiễu bị làm khổ là khác nữa. Vì thế cho nên nó bị kiềm hãm ghê lắm. Phản biện phải được tự do chứ không được tự do thì phản biện làm gì? Mà đã không có phản biện không có báo chí thì coi như con người câm rồi, không có tiếng nói thì còn sống sao được nữa?

Mặc Lâm: Thưa LS, là người giảng dạy môn lý luận chính trị và tiếp cận với hệ thống Đảng trong nhiều chục năm, ông có nhận xét gì về cách tổ chức cũng như lý luận về vai trò của Đảng như từ trứơc tới nay?

Luật Sư Trần Lâm: Chân lý vẫn là nhiều người nhưng cuối cùng chân lý cũng chỉ một người mà thôi. Ở Việt Nam có cái gọi là tập thể, cái gì cũng hội họp rồi nói năm câu ba điều. Trong 10 người họp thì chỉ có một người có ý kiến thôi mà ý kiến đó cũng chẳng sâu sắc gì. Những người kia thì ngồi im lặng chờ đợi chứ biết gì đâu mà nói? Bây giờ cứ mở cái TV mà xem.

Đại biểu Quốc hội của người ta thì về một điều luật thôi, người ta đứng lên bảo vệ điều luật ấy còn lấy tên mình mà đặt tên cho điều luật ấy. Mình thì không bao giờ có cái chuyện ấy chỉ họp và nói có người cầm giấy mà nói. Chính khách là những người tài trí mà lại cầm giấy đọc mấy chữ… ấy ông mở TV xem. Thế thì làm sao mà tài được?

Mặc Lâm: Như vậy theo ông thì Việt Nam không còn người tài nữa hay sao?

Luật Sư Trần Lâm: Có người tài chứ không phải là không, nhưng họ nói ra là nguy lắm. Anh là cấp dưới tôi mà anh nói có vẻ như anh dạy tôi thì làm sao chấp nhận được? Thế thì ngày mai anh sẽ thất sủng. Anh đã làm việc trong cơ quan nhà nước thì anh phải biết nghe thủ trưởng. Ý thủ trưởng như thế nào thì anh phải lựa thế mà làm thì anh mới sống được.

Nếu làm theo ý anh thì thắng anh chẳng được lợi gì cả mà bại thì anh mất đầu. Thí dụ như ông Lê Duẩn nhé, cái này thì tôi biết vì tôi cũng đã hầu hạ ông ấy rồi. Ai mà nói khác ý ông ấy thì ông ấy không thích, ai nói đúng ý ông ấy thì được nghe, ông sẽ bảo cái thằng ấy thế mà được đấy… Như vậy thì làm gì mà còn có sáng tạo nữa?

Chính khách là những người tài trí mà lại cầm giấy đọc mấy chữ… ấy ông mở TV xem. Thế thì làm sao mà tài được?

LS Trần Lâm.

Khi tôi làm việc tôi thấy có thằng cùng làm việc với tôi nhưng tự nhiên nó bị thất sủng, anh em người ta hỏi thằng ấy tội gì mà hoá ra như thế? Có người bạn nói với tôi mày không biết chứ nó có tội nặng lắm đó là tội khôn hơn thủ trưởng!

Vì thế cho nên có việc gì làm được đâu? Hỏng nhiều lắm, sai nhiều lắm, mất nhiều lắm bởi vì không có sáng tạo. Ông Mao Trạch Đông cũng như vậy, ông ấy nói ba người thuộc da còn hơn ông Gia Cát lượng cơ mà!

Đa Đảng

Mặc Lâm: Theo ông thì làm cách nào để sử dụng hết những người tài đang bị kềm kẹp đó một cách hiệu quả, và làm cách nào giải phóng tiếng nói cũng như tiềm năng của họ?

Luật Sư Trần Lâm: Ở Việt Nam hiện nay tất cả những người tài giỏi đều ở trong Đảng cả chứ người ngoài Đảng ít lắm. Tuy ở trong Đảng nhưng không ai đếm xỉa tới họ, người ta coi rất là thừa vì thế cho nên bây giờ những người tài giỏi những người có tâm nói chung đều ở trong Đảng cả. Người dân không đặt được trình độ ở cái mức cán bộ lãnh đạo, ở mức làm lãnh tụ hay chuyên viên… thế cho nên bây giờ phải tách cái Đảng ấy ra làm hai thôi.

Mặc Lâm: Tách Đảng ra làm đôi là sao? Ông có thể giải thích thêm cho rõ hơn không ạ?

Luật Sư Trần Lâm: Làm hai thì nó có cái lợi là có hai Đảng, ba Đảng thì nó có đấu tranh với nhau, nó có phản biện nó có công khai. Bây giờ đòi thành lập một Đảng mới thì không có người tôi nói thực như thế, không có người tài để làm cái Đảng khác. Quanh đi quẩn lại thì chỉ là những Đảng viên, vì Đảng viên người ta đã có hàng mấy triệu chứ có ít đâu? Cứ giỏi thì người ta kéo vào Đảng hết.

Tại sao người ta kéo vào Đảng? Kéo vào Đảng để dễ bảo. Lấy tổ chức Đảng mà kềm chế, thế cho nên không thể nào thành lập được một Đảng khác.

Có một điểm nữa bây giờ ai mà đứng ra thành lập một cái Đảng khác thì hôm nay chưa mời ai để thành lập Đảng thì ngày mai đã vô khám rồi! Vì vậy không thể có một Đảng nào khác chỉ có tự cái Đảng này phải tách ra làm hai thôi

Tách ra làm hai thì nó có cái hay như thế này, khi tách ra làm hai thì những người Đảng viên ấy, họ có lòng với dân với nước, có trình độ họ chưa được cống hiến thì họ hăng hái lên. Họ đã cầm quyền quen rồi bây giờ họ cầm quyền tiếp thì giỏi lắm. Thế còn những người vì cơ hội, vì tiền nong vì họ hàng mà dốt nát mà hối lộ để chui vào trong Đảng, vào trong nhà nước thì khi nó đa Đảng thì lộ tẩy. Nó lộ tẩy thì anh phải rút lui thôi.

Người dân không đặt được trình độ ở cái mức cán bộ lãnh đạo, ở mức làm lãnh tụ hay chuyên viên… thế cho nên bây giờ phải tách cái Đảng ấy ra làm hai thôi. LS Trần Lâm.

Cho nên tôi đề nghị nếu như Đảng cộng sản nó còn tồn tại thì đề nghị rằng phải kết nạp lại mà khi kết nạp lại thì người có đủ bản lĩnh người ta mới dám kết nạp lại còn anh không đủ tiêu chuẩn thì lúc này là lúc anh phải ra đi thôi. Như thế tức là chọn lựa. Như thế tức là sàng lọc. Như thế tức lá thay đổi.

Thay đổi nếu mới nghe thì tưởng là một sự đảo lộn ghê gớm, nhưng không phải, nó vẫn là thế thôi, nhưng mà Tây nó có câu như thế này, trước khi cày bừa thì phải nhặt cỏ đã. Ta cũng có một câu tương tự, nhặt cỏ rồi mới bón phân. Vậy thì cái việc kết nạp lại là một hình thức của việc nhặt cỏ rồi mới bỏ phân.

Như thế thì cái Đảng ấy cũng vẫn là Đảng Cộng sản, cũng vẫn là người cộng sản nhưng những người này họ thoát xác họ trở thành con người khác. Trước kia họ trù trừ họ không dám nói. Họ rụt rè, hay là họ im lặng một cách khinh bỉ… thế thì bây giờ bắt đầu người ta ra tay, đó là một sự sàng lọc.

Mặc Lâm: Nhưng làm sao thực hiện được lập luận mà ông vừa nêu, mặc dù trên căn bản thì lập luận này có thể được nhiều người đồng tình?

Luật Sư Trần Lâm: Thế nó mới cần một ban vận động. Ban vận động sẽ như thế này, bây giờ chúng ta đi qua một cái đồn địch, đi qua một chỗ có thể bị phục kích, thế thì bộ phận tiên tiêu nó đi trứơc.

Nếu có địch chờ ở đấy thì tiền tiêu có thể bị huỷ diệt một phần, nhưng cái đại quân vẫn còn nguyên, có thể gọi đây là một sự thăm dò. Phỉ có một nhóm gọi là nhóm lobby chính trị.

Nếu nhóm lobby chính trị ấy nó hé ra nhưng các vị ấy bảo rằng cái bọn lobby này nguy hiểm lắm phải bắt mấy anh lobby này thì cũng chỉ bắt được vài anh lobby thôi còn đại quân thì vẫn giữ được nguyên vẹn, còn nếu lobby thành công thì sự việc có thể thay đổi được.

Mặc Lâm: Xin cám ơn luật sư Trần Lâm, và thưa quý vị chúng tôi xin được mạn phép lặp lại rằng những ý kiến của LS Trần Lâm không nhất thiết phản ảnh quan điểm của Đài Á Châu Tự Do. Xin cám ơn quý vị.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/New-article-focused-on-the-party-Part-2-MLam-12092009161216.html

Đăng trong:  on Tháng Mười Hai 11, 2009 at 8:03 Sáng Để lại phản hồi
Tags: , ,

Món phở “Bò Tái Chín”

Phở là món ăn truyền thống của Việt Nam, cũng có thể xem là món ăn đặc trưng nhất cho ẩm thực nước nhà. Trong các loại phở, bò tái chín là ngon nhất. Những năm cuối 1980, đám chúng tôi đi làm hợp đồng bên Bộ Tài chính (BTC), anh em gọi đùa đây là Bộ “Bò Tái Chín”.

Quả thật, một nơi cầm chìa khóa két quốc gia, nắm quyền sinh sát trong việc định mức lương cho cán bộ cả nước, làm việc ở bộ này như hưởng món “bò tái chín” hàng ngày thời đói kém.

Mấy hôm nay báo TP đưa tin, Kiểm toán Nhà nước Việt Nam vừa phát hiện lương tháng của lãnh đạo Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) lên tới trên 78 triệu đồng (4.500 đôla Mỹ).

Ban lãnh đạo của SCIC bao gồm nhiều quan chức tầm thứ, bộ trưởng đương quyền. Chủ tịch HĐQT (gồm bảy vị) là Bộ trưởng BTC Vũ Văn Ninh. Ba vị khác là các thứ trưởng Công thương, Kế hoạch-Đầu tư và Tài chính.

SCIC có hai chức năng chính là quản lý và đầu tư vốn của Nhà nước. Nguồn vốn của SCIC là số cổ phần của Nhà nước trong các doanh nghiệp được cổ phần hóa.

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh cho rằng, SCIC là một thử nghiệm nhằm giải quyết tình trạng chủ sở hữu nhà nước bị phân tán ra các bộ, ngành và các cấp địa phương chịu trách nhiệm bổ nhiệm nhân sự, còn Bộ Tài Chính thì lo quản lý tài sản. Mô hình đó có rất nhiều sơ hở và kém hiệu quả, phân tán vốn nhà nước.

SCIC là công ty tư nhân thì ai bàn lương cao thấp làm gì. Và SCIC với hãng máy bay Jet Star ăn nên làm ra chắc cũng chẳng ai để ý đến lương 5000$/tháng. Ở Việt nam, đầy các đại gia lương cao chục ngàn đô la một tháng trở lên.

Tuy thế, Jet Star thua lỗ nhưng tổng giám đốc hưởng lương trên 2 tỷ đồng một năm. Tướng lương cao kéo theo quân lương cao, chả lẽ ăn một mình. Đó là luật bất thành văn của những nơi lấy “bàn tay chia mật”.

Trong quản lý nhất là quản lý tầm quốc gia, người ta kiêng kỵ nhất là xung đột lợi ích. Một nơi như Bộ Tài chính, nắm chìa khóa két bạc của 86 triệu người dân, càng phải tránh điều cấm kỵ này.

Nhưng lạ thay, người ta hiểu qui luật vàng này nhưng không muốn làm theo. Ai cũng biết tham nhũng phá hoại đất nước, vấn nạn phong bì làm băng hoại đạo đức xã hội, nhưng khi hỏi quan chức lớn, đều được cái lắc đầu “chuyện này tế nhị và khó nói”. Tay đã chấm mút thì làm sao mà mở miệng.

Lại một vụ bê bối về tài chính được báo chí phanh phui. Người ở xa băn khoăn, dạo này nhiều chuyện lên mặt báo thoải mái thế. Na ná thời PMU18 và trước thềm đại hội Đảng.

Lý do gì chăng nữa thì cũng là điều mừng. Minh bạch một chút, kiểm toán độc lập và báo chí thay vì tuyên truyền đang được làm đúng nhiệm vụ phản biện, dân thường biết được khối chuyện hậu trường.

Lương cao chót vót bên SCIC, một quan hưởng mấy lương (không hiểu có đóng thuế thu nhập lũy tiến hay không), người ta tự duyệt thang lương cho chính bản thân, gây ra xung đột lợi ích. Làm ăn thua lỗ nhưng lĩnh đều đều vài tỷ hàng năm. Đó là căn bệnh chung của những công ty nhà nước.

Hàng chục triêu dân nghèo (15% dân số) nai lưng làm lụng với thu nhập 365$/năm, trong khi cựu Thứ trưởng Tài chính Trần Văn Tá, hiện là Tổng giám đốc SCIC nhà nước lại có mức lương trên 52.000 đôla Mỹ/năm.

Hỏi rằng công bằng xã hội ở đâu khi những bát phở “bò tái chín đặc biệt” được người ta “nấu” ở tầm quốc gia tại một nơi như Bộ Tài chính.

Tầm nhìn của SCIC đăng tải trên website của tổng công ty này là: “Trở thành nhà đầu tư chiến lược của Chính phủ Việt Nam thông qua việc đem lại giá trị tối đa và sự tăng trưởng bền vững cho các khoản đầu tư”.

Không biết SCIC thành nhà đầu tư chiến lược và hoạt động hiệu quả như thế nào trong bối cảnh hiện nay.

Tuy thế, nhìn vào thang lương của các quan chức, ít nhất tầm nhìn SCIC đã “giúp” các vị này đã “đem lại giá trị tối đa” cho chính cái ví của họ.

Hiệu Minh. 8-12-2009.

Đăng trong:  on Tháng Mười Hai 9, 2009 at 4:29 Chiều Để lại phản hồi
Tags:

CÁCH KHẤN VÁI VÀ PHẨM VẬT CÚNG TẾ

“Từ trước đến giờ, ở trang Web nầy, tôi chỉ thấy có những tài liệu về cúng kiến, theo tập tục và văn phong miền Bắc. Nay tôi xin mạo muội gởi lên một bài tạm gọi là “hướng dẫn” về cúng kiến mấy nội dung thông dụng trong sinh hoạt.

Viết theo tập quán địa phương và lời lẻ nôm na của người bình dân miền Nam. Mong quí vị thông cảm , bỏ lỗi cho. Xin cám ơn”-Nhược Thủy

I.- CÚNG ĐẤT ĐAI:-
A/-Phẩm vật:-
1/-Đào móng xây nhà:-5 chè, 3 xôi, 1 dĩa trái cây thường, 1 bình bông, 1 dĩa trầu cau, trà, rượu, đèn, nhang (lư hương). Sắp chung bàn nhưng chia thành 2 mâm: mâm đất đai và mâm cúng Tổ của thợ.
2/- Dựng nhà:- 5 chè, 3 xôi, 1 dĩa trái cây ngũ quả (5 thứ, thường dùng: thơm, mãng cầu, dừa, đu đủ,  xoài hoặc trái sung ), 1 bình bông, 1 dĩa trầu cau, trà, rượu, đèn, nhang (lư hương). Sắp chung bàn nhưng chia thành 2 mâm: mâm đất đai và mâm cúng Tổ của thợ.
3/-Về nhà mới:- 5 chè, 3 xôi, 1 dĩa trái cây ngũ quả (có phủ kín bằng tờ giấy hồng đơn đỏ ), 1 bình bông, 1 dĩa trầu cau, trà, rượu, đèn, nhang (lư hương). Sắp chung bàn nhưng chia thành 2 mâm: mâm đất đai và mâm cúng Tổ của thợ. Hoặc nếu nấu mâm cơm canh để cúng thì miễn bớt chè xôi.
4/-Khai trương:- 4 chè, 2 xôi, 1 dĩa trái cây thường, 1 bình bông, 1 dĩa trầu cau, trà, rượu, đèn, nhang (lư hương).
5/- Lấy huyệt mã hoặc bốc mộ (cải táng) :- 1 dĩa tam sênh (tam sanh) :- khổ thịt  heo luộc, trứng vịt (ga), tôm khô, trà , rượu, đèn cầy , nhang.

B.- Cách vái nguyện:-
Thắp 3 (hoặc 5 ) cây nhang, châm đèn, rót trà, rượu, đưa nhang lên trán khấn nguyện :-
“Nam-mô A-Di-Đà Phật,
Trời che đất chở, nước có quốc thánh, làng có hương thần, nơi ngụ cư có Đất Đai Viên Trạch. Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……… (ÂL), con tên họ là …………(xưng họ tên), ……….tuổi, hiện ở tại ………(ấp, xã, huyện, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, kính trình “ĐẤT ĐAI VIÊN TRẠCH” nhậm lễ chứng minh, cho phép con được (đào móng, dựng nhà v.v…). Kính xin Đất Đai phù hộ độ trì cho công việc  ……… (Nếu là đào móng, xây, dựng  nhà,  thì vái cho được tiến triển tốt đẹp, an toàn khi làm việc, chủ thợ đều bình an, nhanh chóng thuận lợi, vui vẻ mọi bề …// Nếu về nhà mới thì vái cho  toàn gia được bình an mạnh khỏe, đời sống được ấm no, sung túc, trên thuận dưới hòa, v.v… // Nếu là khai trương thì vái được thuận lợi, mua may bán đắt, chủ khách vui vầy, tiền bạc bốn phương tụ về, xuân hạ thu đông đều  phát đạt v.v… // Nếu là lấy huyệt mã… thì vái : cho phép được lấy huyệt (hay bốc mộ…)  của (Ông, Bà, cha, mẹ, anh, chị , em …) chúng tôi, tên họ là :…………….,
……tuổi, mất ngày……., tháng………, năm………… (ÂL).
Trời Đất che chở, thánh thần thiêng liêng, kính mong Đất Đai Viên Trạch độ trì , vạn sự tốt lành. Chúng con vô cùng biết ơn. Mô Phật”.
*Đọc câu thần chú sau 3 lần :- “Nam-mô tam mãn đa, một đà nẫm, án độ rô, độ rô, địa vĩ  ta bà ha”. Châm trà rượu mỗi thứ đủ 3 lần.

II.- CÚNG TỔ CỦA THỢ :- (Trong lễ đào móng (động thổ), dựng nhà (gác đòn tay, kèo ), khai trương ngành nghề ……)
A/-Phẩm vật:- Thông thường là con gà luộc tréo cánh, nếu không có thì 3 chè, 1 xôi cũng được.
-1 bình bông, 1 đĩa trái cây thường,  gạo muối. *Quan trọng là nhớ đặt “TIỀN TỔ” !
B/- Khấn nguyện:-“ Nam-mô A-Di-Đà Phật,
Tay nghề khéo léo, nhờ ơn Tổ—Cuộc sống vươn lên, nhớ đức Sư.
Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……… (ÂL), con tên họ là …………(xưng họ tên), ……….tuổi, hiện ở tại ………(ấp, xã, huyện, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, kính trình “THẬP NHỊ CÔNG NGHỆ TỔ SƯ, LỖ BAN TỔ SƯ ” nhậm lễ chứng minh, cho phép chúng con được (đào móng, dựng nhà v.v…). Kính xin chư vị Tổ Sư hiển kinh phù hộ độ trì chúng con được …
tốt đẹp, an toàn khi làm việc, chủ thợ đều bình an, nhanh chóng thuận lợi, vui vẻ mọi bề …// Nếu về nhà mới thì vái cho  toàn gia được bình an mạnh khỏe, đời sống được ấm no, sung túc, trên thuận dưới hòa, v.v… // Nếu là khai trương thì vái được thuận lợi, nghề nghiệp ngày thêm tinh xảo khéo léo, mua may bán đắt, chủ khách vui vầy, tiền bạc bốn phương tụ về, xuân hạ thu đông đều  phát đạt v.v…Chúng con vô cùng biết ơn quí Tổ. Mô Phật”.

III.- CÚNG ÔNG BÀ TỔ TIÊN:-

A/-Phẩm vật:- Nấu mâm cơm canh để cúng là gọn nhất, nếu không có thì có gì cúng nấy, chè xôi hoa quả gì cũng tốt, cốt ở lòng thành tưởng nhớ ông bà là tốt rồi.
B/-Khấn nguyện:-
“Nam-mô A-Di-Đà Phật,
Cây có cội, nước có nguồn; người phải có tổ tiên, ông bà, cha me. Hương lửa lưu truyền, có thân lớn khôn đây là nhờ ơn Cửu Huyền ban phước. Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……… (ÂL), con tên họ là …………(xưng họ tên), ……….tuổi, hiện ở tại ………(ấp, xã, huyện, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, kính trình “CỬU HUYỀN THẤT TỔ, NỘI NGOẠI TÔNG THÂN” nhậm lễ chứng minh, cho phép con được (đào móng, dựng nhà v.v…). Kính xin Ông Bà Tổ Tiên phù hộ độ trì cho công việc  ……… (Nếu là đào móng, xây, dựng  nhà,  thì vái cho được tiến triển tốt đẹp, an toàn khi làm việc, chủ thợ đều bình an, nhanh chóng thuận lợi, vui vẻ mọi bề …// Nếu về nhà mới thì vái cho  toàn gia được bình an mạnh khỏe, đời sống được ấm no, sung túc, trên thuận dưới hòa, v.v… // Nếu là khai trương thì vái được thuận lợi, mua may bán đắt, chủ khách vui vầy, tiền bạc bốn phương tụ về, xuân hạ thu đông đều  phát đạt v.v…
*Đọc câu thần chú sau đây 3 lần:- “Án nga nga nẵng, tam bà phạ, phiệt nhựt ra hồng”.

IV.- CÚNG CÔ HỒN CHIẾN SĨ:-
A/-Bày trên mâm hoặc sàng hay nia, trải ra xếp đều trên mâm các thứ sau:-
-Giấy áo cắc đảng (các đẳng) ngũ sắc, giấy tiền vàng bạc (thường hoặc đại cũng được), bánh ngọt, kẹo………… nhiều thứ, thuốc hút, 1 dĩa gạo muối, 4 chung trà, 4 chung rượu, bông trái tùy  ý.

B/- Khấn nguyện:- Châm đèn, đốt 10 cây nhang, vái :-
“Nam-mô A-Di-Đà Phật, Trời đất thuận lý, âm dương an bài. Trời cao đất dày che chở, âm siêu dương thới xưa nay. Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……… (ÂL), con tên họ là …………(xưng họ tên), ……….tuổi, hiện ở tại ………(ấp, xã, huyện, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, cung thỉnh  “MƯỜI PHƯƠNG CHỦNG LOẠI CÔ HỒN, CÁC ĐẲNG CHIẾN SĨ” về đây thọ tài hưởng lộc, trợ giúp tôi được (đào móng, dựng nhà, về nhà mới, khai trương  buôn bán cửa tiệm gì…………hoặc xuất hành chiếc xe loại gì…… mang biển số là………………v.v…). Kính xin chư vị, thọ nhơn tài hãy cứu nhơn tai, giúp đỡ chúng tôi trong công việc ……… được đầu xuôi đuôi lọt, khách thuận chủ hòa, tất cả đồng vui vẻ, đi về bình an v.v…Chúng tôi xin biết ơn và hậu tạ sau nầy”.

*Đọc  bài  chú vãng sanh sau 3 lần :- “Nam-mô a-di-đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha, a di rị đô bà tì, a di rị đa tất đam bà tì . A di rị đa tì ca lan đế, a di rị đa tì ca lan đa. Dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha”. Nam-mô A-Di-Đà Phật. (3 lần)

*Cúng xong, rải gạo muối ra bốn hướng, đốt giấy tiền vàng bạc, giấy áo v.v…Bánh kẹo các thứ thì phát cho trẻ con.

NHƯỢC  THỦY

Nguồn : Hoangthantai.com

Đăng trong:  on Tháng Mười Hai 8, 2009 at 2:25 Chiều Để lại phản hồi
Tags: ,

Các trường báo chí trong xã hội Internet

Trong suy nghĩ của nhiều nhà báo thì công việc họ đang làm là rất cần thiết và luôn luôn không thể thiếu được.

Sự thay đổi vị thế của các cơ quan báo chí

Người dân cần được cung cấp đầy đủ thông tin trong một xã hội dân chủ, và do trong xã hội đó, chúng ta là những người giám sát chính phủ nên chúng ta cần đảm bảo chính phủ trung thực và hành động vì lợi ích nhân dân. Trong các trường dạy về báo chí thường có những giáo trình hay sách vở về vấn đề này – như các trường của chúng ta đang làm. Chúng ta có nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lai về chức năng của một nền dân chủ và cần phải làm những điều mà có thể giúp cho những thế hệ hiện tại có khả năng phát triển tốt hơn.

Hiện tại thì với tình hình tài chính của ngành truyền thông, sức thuyết phục về vai trò của nghề báo là khá yếu. Tuy nhiên, các trường học và các khoa chuyên ngành báo chí lại đang khá phát triển. Sự mâu thuẫn này là khá đáng chú ý vì ngành giáo dục chỉ có một phần là về ngành báo chí mà trong đó, mô hình làm việc vẫn được coi trọng. Làm thế nào để chúng ta có thể chống lại quy luật đó. Và làm thế nào mà chúng ta có thể thay đổi tình trạng đó cho các cơ quan báo chí mới thành lập để các trường chuyên ngành báo chí và các chuyên gia có thể lại cùng nhau phát triển.

Cần phải nhìn nhận rằng những nhà báo đã mang đến sự kết nối về xã hội và kinh tế đáng được đề cao. Khoảng 10 hay 15 năm trước, có vẻ như mọi người đi theo xu hướng truyền thông chính thống nhưng không có nghĩa rằng tất cả công chúng đều trung thành với các tin tức về các sự kiện mang tính chất phổ thông. Các tờ báo là những kho thông tin – kết quả thể thao, quảng cáo, lịch chiếu phi … Truyền hình và radio là những nguồn thông tin duy nhất cung cấp các sự kiện lớn trong ngày xảy ra những sự kiện đó. (đọc tiếp…)

Sao cứ bắt tổ tiên phải cởi trần đóng khố?

Tại sao người vẽ tranh cho truyện lại bắt tổ tiên ta phải ăn mặc nghèo nàn – trong khi, cùng thời đại – mà người láng giềng lại có được quần áo chỉnh tề như thế?

LTS: Xung quanh những bức hình trong cuốn truyện tranh “An Dương Vương và Nhà nước Âu Lạc” truyện của Nguyễn Thị Thu Hương, tranh của Hồ Vĩnh Phúc, do Nhà Xuất bản Giáo dục in năm 2007 đang có các ý kiến tranh luận nhiều chiều. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết thể hiện góc nhìn riêng của CTV Đinh Công Nguyên để độc giả đóng góp thêm ý kiến. Sau đây là nội dung bài viết:

Tôi nghĩ cách thể hiện hình ảnh trong cuốn truyện tranh có 2 cái sai, đó là:

1. Trang phục của tổ tiên ta không đúng với thực tế (bài viết: Xin đừng hiểu về trang phục của tổ tiên như thế chủ yếu chứng minh cho điều này) – nhưng xét trên khía cạnh một tác phẩm văn học – nghệ thuật (truyện, phim,…), vấn đề này cũng không phải là quá quan trọng.

2. Vấn đề đáng nói hơn, sai lớn hơn là ở chỗ, tại sao người vẽ tranh cho truyện lại bắt tổ tiên ta phải ăn mặc nghèo nàn – trong khi, cũng cùng thời đại – mà người láng giềng phương bắc lại có được quần áo chỉnh tề như thế. (Ít nhất thì cũng phải ngang nhau chứ – nếu có quần áo, thì cùng mặc quần áo – nếu không ta đóng khố lông chim, thì họ cũng là lông thú thôi, chứ đằng này…).

Ảnh minh họa

Cái ấu trĩ ở đây có lẽ  là tư tưởng luôn tự cho mình là thấp kém hơn người khác. Nhiều người, do những lý do nào đó, họ không bao giờ được bằng bạn bằng bè, không bao giờ vượt qua được chính mình – vì trong tiềm thức họ đã luôn tự ti, mặc cảm rằng mình luôn thấp kém, không bằng mọi người… bản thân những người bi quan, tự ti, sẽ là thiệt thòi cho chính họ. Nhưng đem cái tư tưởng của số ít mà áp cho cả một dân tộc (theo kiểu bụng ta suy ra bụng cả làng..) thì thật là không nên, thật không thuyết phục.

Ở đây tôi không muốn quy kết cái tội danh gì cho ai đã viết, hay vẽ nên những bức tranh truyện kia (vì ít nhất, nó cũng đã được qua kiểm duyệt trước khi xuật bản!).

Song điều đáng nói ở đây là, hiện tượng tâm lý như trên, không phải chỉ có ở một vài người, hay một phần nhỏ người dân ta, mà có vẻ như nó đã ăn sâu, như một căn bệnh ung thư về tư tưởng trong một bộ phận không nhỏ người dân.

Việc này khiến tôi liên tưởng tới một trong những hiện tượng (có thể nói là đặc biệt) của xã hội ta cách đây ít lâu – đó là khi cả nước ta ăn mừng chiến thắng trước Thái Lan rồi giành cúp vô địch cúp bóng đá khu vực.

Khi đó tôi tự hỏi, liệu chiến thắng có thực sự đáng tự hào đến thế hay không? Thực tế, đây dù sao cũng chỉ là một chiến thắng trong thể thao (cho dù là môn thể thao vua – được yêu thích nhất) – nó chắng thể sánh với những chiến thắng trong những thành tựu khoa học – mà chúng ta đã phải rất khó khăn gian khổ, thậm chí mất mát hy sinh để có được – những chiến thắng này có giá trị đích thực của nó mà không cần phải tung hô – thể hiện ở sự ngưỡng mộ, nể trọng của bạn bè thế giới (ví dụ như chiến thắng trong công cuộc giải phóng đất nước, rồi những thành tựu y học kiệt xuất của một số cá nhân như: BS. Nguyễn Tài Thu, NS. Đặng Thái Sơn, … và nhiều người khác).

Nhưng cũng thật dễ hiểu cho lễ ăn mừng rầm rộ (thậm chí là hơi quá) của quần chúng cả nước cho chiến thắng (mặc dù nếu nhìn từ lăng kính nước ngoài vào, thì đó đúng là chuyện vui nhưng cũng thường thôi, họ không hiểu vì sao lại rầm rộ đến như thế).

Bởi vì, mặc dù đây chỉ là một chiến thắng trong thể thao, nhưng nó đã đáp ứng mong mỏi – từ đã rất lâu rồi – của một xã hội mấy chục triệu dân – của cả một dân tộc mà vừa mới giành lại được một quốc gia độc lập cho riêng mình, được mấy chục năm – nhưng chính là từ đó đến nay, cái mà họ đã vất vả, cực nhọc, thậm chí hy sinh mất bao xương máu để đạt được ấy – từ khi khai sinh, dường như sau đó, chưa khẳng định được mình trước bạn bè thế giới – đáp ứng lòng mong mỏi của toàn dân.

Để rồi đến khi, một chiến thắng trong thể thao, như miếng bánh, cốc nước thỏa nỗi thèm khát của một cơ thể đang đói cồn cào, khát khô cổ…

Ảnh minh họa

Tất nhiên, đây chẳng phải lỗi của riêng ai, cũng không thể đổ tội cho mọi người trong xã hội (bằng chứng là, ở đâu đó, trong lĩnh vực nào đó đã có những cá nhân nổi lên để khẳng định mình, qua đó góp phấn quảng bá bộ mặt dân tộc, đất nước ra thế giới). Phải chăng đây là hậu quả của sự trì trệ – tự bóp chẹt mình trong một thời gian dài.

Trong hoàn cảnh như vậy, mỗi người tiến bộ, trước hết hãy tự đổi mới, cải cách chính mình ngay từ tư duy, cách nghĩ. Tiếp đến là làm sao để truyền bá luồng tư tưởng tiến bộ, mạnh dạn cầu tiến của mình đến cho người khác, đặc biệt là thế hệ trẻ. Chỉ có cách như vậy, dần dần đến một lúc nào đó, khi đa phần người trong xã hội có “bộ óc mới” thì khi đó mới có thể tăng tốc cho cả bộ máy xã hội này được.

Một lần nữa tôi muốn nhấn mạnh, rằng mình có thể kém người về tiền bạc, của cải, thậm chí là tri thức, khoa học công nghệ, … – nhưng tất cả những thứ này đều có thể phấn đấu để làm giầu thêm cho mình, thậm chí đuổi kịp để sánh ngang, hay vượt qua những người đi trước (như ví dụ về những “con rồng châu Á” là điển hình) – nhưng trên tất cả, nếu ta thua kém người về ý chí, chấp nhận thất bại ngay từ trong ý nghĩ, nhận mình thua kém từ trước khi phấn đấu, xác định thua từ trước trận đấu thì… có thể nói thật quá khó để chúng ta vượt qua được chính mình.

Đinh Công Nguyên

Nguồn : Tuanvietnam.net

Đăng trong:  on Tháng Mười Hai 1, 2009 at 1:32 Chiều Để lại phản hồi
Tags: , ,